Lịch sử Phật Giáo Việt Nam

Vào thời vua Hùng thứ Mười tám (vào khỏang thế kỷ III Trước Dương lịch), Chử Vi Vân ở làng Chử Xá

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Chương I :

PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM

Hầu hết các sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam trước đây đều cho rằng Phật giáo từ Ấn Độ truyền qua Trung quốc, rồi từ Trung Quốc mới du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I – II, đầu kỷ nguyên Dương lịch. Nhưng nếu nghiên cứu kỹ hơn về các sách cổ, các tài liệu xưa, các di tích lịch sử – văn hóa (đình chùa, đền miếu…) ở Việt Nam, và Đại Tạng Kinh của Phật giáo, chúng ta biết được là  Phật giáo từ Ấn Độ đã du nhập thẳng vào Việt Nam ngay từ cuối thời Hùng Vương, vào khoảng thế kỷ III trước Dương lịch; sau khi hình thành và phát triển, mới có sự giao lưu giữa Phật giáo Việt Nam và Trung quốc vào khoảng thế kỷ II-III sau Dương lịch, với các Trung tâm Phật giáo nổi tiếng như Liên Lâu (hay Luy Lâu) ở Giao Châu (Việt Nam), cùng Lạc Dương và Bành Thành ở Trung quốc. Đồng thời chúng ta thấy được là Phật giáo Việt Nam có nhiều điểm khác biệt hẵn với Phật giáo Trung quốc, và có thời vượt hơn Phật giáo Trung quốc; chứ không phải là Phật giáo Việt Nam từ Trung quốc truyền sang, hay như  thuộc truyền thừa của Phật giáo Trung quốc, như một số sách Lịch sử Phật giáo cũ đã viết.

I. PHẬT GIÁO DU NHẬP VÀO VIỆT NAM TỪ THỜI HÙNG VƯƠNG (Thế kỷ III trước Dương lịch).

Sách “Lĩnh Nam Trích Quái” của Trần Thế Pháp kể một số sự tích vào thời Hùng Vương, trong đó có truyện “Nhất Dạ Trạch” (Đầm Một Đêm) như sau:

Vào thời vua Hùng thứ Mười tám (vào khỏang thế kỷ III Trước Dương lịch), Chử Vi Vân ở làng Chử Xá, có con là Chử Đồng Tử. Hai cha con nhà nghèo, hiền lành, sống bằng nghề đánh cá. Chẳng may, nhà bị cháy, gia đình chỉ còn có một chiếc khố vải, cha con phải thay nhau mà mặc; ai đi ra đường thì đóng khố. Lúc đó, Chử Vi Vân lại bị bịnh nặng, sắp chết, bảo con rằng: “Khi cha chết, con đào lỗ chôn, để chiếc khố lại mà mặc”. Sau khi cha mất, Chử Đồng Tử không nỡ làm như thế, nên cứ để nguyên cả chiếc khố mà chôn. Vì thế, hằng ngày, Chử Đồng Tử đi bắt cá với thân hình trần truồng, thấy người hay thuyền đi qua, phải lội xuống nước, che nửa thân người.

Lúc bấy giờ, vua Hùng không có con trai, chỉ có hai người con gái rất xinh đẹp là Tiên Dung và Ngọc Hoa. Công chúa Ngọc Hoa được gả cho Sơn Tinh, còn Tiên Dung không chịu lấy chồng, chỉ thích đi ngao du sơn thủy. Vua cũng chiều ý theo. Mỗi năm, vào tháng Hai, tháng Ba, công chúa Tiên Dung thường đi thuyền ra biển du ngọan, vui chơi ngoài biển.

Một hôm, Tiên Dung đi thuyền dọc bờ biển thuộc làng Chử Xá, ghe thuyền cờ xí, đàn sáo, chuông trống vang lừng. Bỗng công chúa ra lệnh dừng thuyền ở bờ biển, để công chúa lên bãi biển ngắm cảnh. Trong lúc đó, Chử Đồng Tử đang bắt cá ở bờ, thấy đòan thuyền ghé vào bờ, sợ hãi, vội trốn vào đám lau sậy , moi cát phủ lên thân mình. Sau đó, công chúa lại cho cung nữ giăng màn trướng ở bãi biển để tắm, ngay nơi Chử Đồng Tử ẩn trốn. Tiên Dung cùng cung nữ tắm biển nô đùa vô tư, nước cuốn cát trôi ; bất ngờ lộ nguyên thân mình Chử Đồng Tử ! Sau giây phút bối rối, ngỡ ngàng, công chúa định tâm bình tỉnh lại, nghĩ rằng: Việc trớ trêu nầy xảy ra, âu cũng làø nhân duyên Tiền định, Tiên Dung nói rằng: Ta đã không thích lấy chồng, nay lại gặp chàng trong huyệt cát, có lẽ trời khiến như thế. Thôi, chàng hãy tắm rữa đi. Công chúa sai cung nữ lấy quần áo của quan theo hầu cho Đồng Tử mặc, mời lên thuyền dự tiệc. Chử Đồng Tử trình bày rõ hoàn cảnh đơn côi nghèo khó của mình. Tiên Dung thương xót, nhận làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ, Tiên Dung nói: Việc nầy là do trời tác hợp, cớ gì mà từ chối! Đồng Tử cảm động sự chân thật của Tiên Dung, nên nhận lời.

Những người theo hầu công chúa báo về triều, tâu với vua sự việc. Vua tức giận, không cho Tiên Dung trở về cung điện nữa.

Tiên Dung cùng Chử Đồng Tử lập phố xá để buôn bán, dần dần nơi nầy trở thành một ngôi chợ lớn là chợ Hà Lõa, có cả thương nhân người nước ngòai đến buôn bán (chuyện An Tiêm cũng cho biết thời đó đã có buôn bán bằng đường biển). Một hôm, có một thương nhân đến rũ Chử Đồng Tử hùn vốn ra nước ngòai buôn bán. Chử Đồng Tử cùng lên thuyền đi buôn. Khi thuyền ghé lên bờ để lấy thêm nước và lương thực ở chân núi Quỳnh Viên, Chử Đồng Tử lên núi dạo chơi, ngắm cảnh. Gặp một am tranh trên núi, Đồng Tử ghé viếng, gặp sư Phật Quang đàm đạo. Sư Phật Quang thuyết giảng Phật pháp, Đồng Tử nghe khế hợp và quyết định ở lại núi nầy để tu học. Nên Đồng Tử giao vàng cho người bạn đi buôn, dặn khi nào trở về thì ghé chở Đồng Tử về nước.

Năm sau, thuyền buôn đến rước, khi xuống núi, sư Phật Quang tặng cho Chử Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón lá, bảo rằng : Các việc “linh thông” có cả trong hai vật nầy.  

Chử Đồng Tử về nhà, giảng giáo lý đạo Phật và những điều đã học với sư Phật Quang trên núi Quỳnh Viên cho Tiên Dung. Tiên Dung cũng ngộ được lý đạo, nên cả hai vợ chồng quyết định bỏ nghề buôn bán  để lo tu hành giải thoát. Sau thời gian chí tâm nghiêm mật ẩn tu trên núi, Chữ Đồng Tử và Tiên Dung đắc thành đạo pháp, xuống núi độ đời.

Một hôm, Đồng Tử và Tiên Dung đến giữa một cánh đồng vắng khi trời tối, hai người cắm cây gậy và úp nón lá trên đầu cây gậy, đọc chú, bỗng thấy hiện ra một tòa thành quách, có cả lầu đài, nhà cửa, với ngọc ngà châu báu, tướng sĩ trang nghiêm, cung nữ xiêm y rực rỡ…. Sáng ngày dân chúng địa phương trông thấy hết sức kinh ngạc, họ mang hoa quả, vật thực đến dâng và xin theo hầu, số người theo ngày càng đông.

Vua Hùng nghe tin vợ chồng Tiên Dung lập thành quách và quân lính, tưởng rằng Chữ Đồng Tử muốn nổi lên chống lại triều đình, nên cử môt đạo quân hùng hậu đến dẹp lọan. Đạo quân đến bãi Tự Nhiên bên bờ sông lớn, dừng lại nghỉ đêm, chuẩn bị sáng hôm sau vượt sông đánh dẹp. Dân chúng trong thành định dàn trận chống giữ. Nhưng Tiên Dung bảo rằng: Việc nầy là do Trời định, ta đâu dám chống lại cha. Dân chúng mới theo sợ hãi nên bỏ chạy, chỉ còn tướng sĩ và cung nữ cũ ở nguyên trong thành. Đến giữa đêm, mưa bão, giông gió, sấm chớp nổi lên, thuyền bè dinh trại của binh lính vua Hùng nghiêng ngã…. Sáng hôm sau mưa bảo yên, dân chúng và quan binh triều đình không thấy thành quách cùng quân binh của Chữ Đồng Tử ở đâu cả, đất ở ngay nơi thành cũ bị sụp xuống sâu thành một đầm lầy lớn. Dân chúng cho rằng Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời, nên lập Miếu thờ; gọi đầm đó là “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch).

Trước đây, nhiều người cho rằng đó là chuyện thần thọai của người tu Tiên. Nhưng thật ra, nếu nghiên cứu kỹ, chúng ta biết được đây là chuyện có thật của người tu theo Mật tông trong Phật giáo.

Việc Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời không phải là sự tưởng tượng, mà là một việc mà các vị tu hành Mật Tông có thể làm được ! Trong sách “Lục độ Tập kinh” do Khương Tăng Hội dịch Phạn – Hán, viết : “Hễ muốn lên trời, phải qui y Tam bảo, hiểu bốn vô thường, dứt hết xan tham, nuôi chí thanh tịnh, liều mình cứu người, ban ơn khắp chúng sinh, đó là một. Thương xót chúng sinh, quên mình cứu người, lòng hằng biết đủ, không phải của mình không lấy, giữ trinh không dâm, giữ tín không lừa dối, rượu là độc dữ, khô nát đạo hiếu, tuân giữ mười lành, lấy chính dẫn bà con, đó là hai. Nhẫn nhục chúng sanh, (…), đem ba ngôi báu mà dẫn dụ (…). Giữ đức lớn nầy, trước sau không lỗi, cầu làm vua pháp ba cõi, thì có thể lên trời khó gì.”

Việc sư Phật Quang trao cho Đồng Tử cây gậy, nón lá và bảo “Các việc linh thông đều ở trong hai vật nầy”, nhiều người cho rằng Chử Đồng Tử tu Tiên, chứ không phải tu theo Phật giáo. Thật ra, cây gậy và nón lá là hai pháp khí của các tăng sĩ  Phật giáo tu theo Mật tông từ thời xưa cho đến ngày gần đây. Cây gậy là cây Tích trượng của các Thiền sư, hay là pháp khí của người tu theo Mật tông. Thiền sư Từ Đạo Hạnh dùng gậy đánh chết sư Đại Điên để trả thù cho cha; Bà Man Nương ở chùa Dâu (chùa Pháp Vân) dùng gậy cắm xuống đất rồi đọc chú làm cho nước phun ra để cứu dân chúng đang bị hạn hán…. Chiếc nón lá để che nắng, đồng thời là phương tiện để qua sông suối của các tăng sĩ thời xưa khi đi hành đạo, vì thời đó chưa có cầu và ít có bến đò như  thời nay. Cho đến thế kỷ 20, các vị sư ở Nam Bộ, nhất là các ông Đạo của Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn thường đứng trên nón lá để qua sông rạch.

Ngòai ra, còn một giả thuyết khác : Đạo Phật  du nhập vào Việt Nam từ thời vua A-dục  cai trị ở Ấn Độ.

II. PHẬT GIÁO  DU NHẬP VÀO VIỆT NAM TỪ THỜI VUA A-DỤC  CAI TRỊ Ở ẤN ĐỘ ( THẾ KỶ III T.DL).

Vua A-dục (Asoka = Vô ưu), có hiệu là Thiện Ái Hỷ Kiến vương, hay Thiện Ái Thiện Kiến vương. Vua A-dục là vị vua thứ ba của triều đại Khổng Tước (Maurya) của nước Ma-kiệt-đà (Magadha) ở Trung Ấn Độ, và là người có công nhất trong việc hộ trì và hoằng truyền Phật giáo.

Vua A-dục sinh vào khoảng giữa thế kỷ III trước Dương lịch, lên ngôi vào khoảng năm 272 đến năm 264 TDl, mất khoảng năm 232-231 TDl, sau khi Đức Phật Thích Ca diệt độ khoảng 218 năm. Ông nội của ông là Đại vương Chandragupta (Chiên-đà-la-cấp-đa) của vương quốc Ma-kiệt-đà, cha ông là vua Bindusara (Tân-đầu-sa-la), mẹ ông là A-dục-vi-đạt-na (Asokavadana). Nước Ma-kiệt-đà lúc đó rất rộng lớn, trãi dài từ dãy núi Hy-ma-la-ya (Hy-mã-lạp sơn) ở miền bắc bán đảo Ấn Độ, xuống đến tận vùng Mysore ở miền nam Ấn Độ ngày nay.

Lúc còn trẻ, hoàng tử A-dục tánh tình rất hung bạo, không được vua cha thương mến. Khi nước Đức-xoa-thi-la (Takasila) làm phản, vua sai hoàng tử A-dục đem quân dẹp loạn, nhưng lại không cấp đầy đủ cũ khí với ý định cho hoàng tử chết trong trận chiến. Nhưng nhờ tài đánh trận giỏi, nên hoàng tử dẹp được quân phản loạn. Nhờ đó, uy danh lừng lẫy.

Sau đó, hoàng tử A-dục được vua cha cử làm Thái thú, cai trị miền bắc Ấn Độ. Vài năm sau, vua Tân-đầu-sa-la bị bịnh nặng, Hoàng tử A-dục trở về kinh đô Pataliputra (Hoa-thị thành). Sau khi vua cha chết, các hoàng tử tranh giành ngôi vua suốt 4 năm trường. Có thuyết cho rằng, hoàng tử A-dục giết chết 99 người anh em mới lên ngôi vua. Sau khi lên ngôi, vua A-dục vẫn còn hung bạo, giết nhiều đại thần, phụ nữ, tàn ác với nhân dân, lập nhiều nhà tù …; nên bị gọi là Chiên-đà-a-dục vương (Chandasoka). Sau khi làm vua bảy năm (có sách ghi 2 hay 3 năm), vua A-dục qui y theo Phật giáo. Tuy là ưu-bà-tắc nhưng vua chưa hết lòng tin Phật, chưa thân cận chư tăng. Nhân duyên và năm tháng vua qui y theo Phật giáo, các kinh sách viết khác nhau.     

Lên ngôi được 9 năm (k.259 t.Dl), vua A-dục muốn thống nhứt đất nước, nên đem quân đánh chiếm nước Yết-lăng-già (Kalinga) ở miền nam bán đảo Ấn Độ. Cuộc chiến xảy ra hết sức khốc liệt, hằng chục vạn người bị giết, hằng chục vạn người bị tù đày khốn khổ, nhà cửa bị tàn phá… Sau cuộc chiến đó, vua A-dục bỗng thấy hối hận, thấu hiểu rõ được lý đạo Phật là xác đáng, nên vua quyết chí tu theo đạo Phật, có đạo hiệu là Thiên Ái Hỷ Kiến. Để tỏ lòng sám hối tội lỗi, vua đã ban bố Sắc luật khắc trên bia đá như sau : “ Vua Thiên Aùi Hỷ Kiến, lên ngôi chín năm, đem quân chinh phạt nước Yết-lăng-già, bắt sống 15 vạn người, giết hại mười vạn người và số người chết vì bịnh tật, đói khát nhiều gấp bội.Kể từ ngày thôn tính nước đó đến nay, Thiên Ái rất nhiệt tâm hộ trì Chánh pháp để truyền bá khắp nơi. Nay nghĩ lại về sự sát phạt, bắt bớ, và những sự giết hại ở nước Yết-lăng-già, Thiên Ái rất lấy làm đau lòng và thành tâm sám hối …”.

Vua cho trả lại đất đai của nước Yết-lăng-già, thả hết tù binh, lại còn gởi cho họ một bức thư xin lỗi. Thật là một việc làm “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử thế giới.

Sau cuộc chiến ác liệt, tàn khốc đó, vua A-dục ngộ được lý đạo Phật, vua quyết chí tâm tu hành, thực hiện theo hạnh Bồ tát, hết lòng hộ trì Phật giáo. Vua còn tuyên bố “Thắng lợi bằng Chánh pháp là thắng lợi cao hơn tất cả!”. Vua bỏ săn bắn, bỏ cuộc sống xa hoa, ra lệnh cấm sát sanh, bảo hộ lòai vật. Vua ra lệnh cho các quan ở các địa phương  làm các việc thiện, giúp ích cho dân chúng.

Ở ngôi được 12 năm, vua A-dục chí tâm tu hành miên mật nên đạt được giác  ngộ. Vua hết lòng hộ trì  và truyền bá Đạo Phậ, vì vậy, vào nửa cuộc đời còn lại, vua được tôn gọi là “Vua A-dục Chánh pháp”.Vua A-dục qui y, hộ trì và hết lòng truyền bá đạo Phật là nhờ ở sự hướng dẫn của Tỳ kheo Hải (Samudra), Tỳ kheo Ni-cù-đà hay Ni-câu-luật (Nigrodha), và A-la-hán Da-xá (Yasa).

Công đức về sự hộ trì và xiển dương Phật giáo của vua A-dục gồm những việc lớn như sau :

1. Vua ban bố các Sắc lệnh chăm lo Đạo đức và Từ thiện cho dân chúng.

Từ năm lên ngôi thứ 12 đến năm 39, vua ban bố nhiều sắc lệnh khắc trên đá, ra lệnh : cấm sát sanh, xây dựng bệnh viện, phân phối thuốc trị bệnh cho dân chúng, động viên trồng cây thuốc, nuôi người già yếu bệnh tật, đào giếng, trồng cây hai bên đường …”. Vua ân xá cho tội nhân 26 lần.

Vua ra lệnh cho các quan địa phương phải lấy lòng nhân từ cai trị dân và lo cho dân, thưởng phạt không sai, khuyến khích và giúp đỡ dân chúng làm việc thiện, xa việc ác, có tâm từ bi, khoan dung, thành thực và trong sạch.

Vua chủ trương tự do tín ngưỡng, không kỳ thị chủng tộc, không phân chia giai cấp.

Vua ra lệnh phải giữ sự hòa thuận trong đền chùa, trong Tăng đoàn; trị tội những những người gây chia rẽ hay làm suy yếu Tăng đoàn.

Vua cũng ra lệnh phải bố thí cho các Tu sĩ Bà-la-môn cũng giống như các Tăng sĩ Phật giáo; và không được mạt sát tín ngưỡng của người khác. Vua còn ra lệnh, 5 năm một lần, quan và dân mở Đại hội Du-già cúng dường cho các Sa môn và các Bà-la-môn … .

Các Sắc lệnh được khắc trên các cột đá, nên được gọi là “A-dục vương Pháp Sắc” hay “A-dục vương Khắc Văn”. Các Pháp Sắc hay các Khắc Văn được công bố cho dân chúng trên toàn lãnh thổ của Đế quốc Ma-kiệt-đà. Các Trụ đá nầy được gọi là “Trụ đá của vua A-dục” (A-dục vương Thạch Trụ). Trụ đá là cột bằng đá tròn, cao từ 7m đến 13m, trên đỉnh trụ đá có chạm hình con sư tử, hoặc con ngựa, hoặc 3 con sư tử. Phía dưới con sư tử hay con ngựa còn chạm hình mặt trời, Bò thần, hoa văn hình Hoa sen … Những Trụ đá của vua A-dục rất quan trọng cho Lịch sử Ấn Độ và Lịch sử Phật giáo. Nhờ những Trụ đá nầy mà ngày nay, con người chúng ta mới biết chắc chắn rằng Đức Phật Thíc Ca là có thật trong lịch sử nhân loại, chứ không phải là huyền thoại ! Phật giáo và Tam Tạng Kinh điển của Phật giáo cũng là những sự kiện có thật trong Lịch sử nhân loại !

2. Vua A-dục chiêm bái Phật tích và Thánh tích.

Vua nghe theo chỉ giáo của Cao tăng Ưu-ba-cấp-đa (Upagutta) ở núi Ưu-lâu-mạn-đà (Urumanda), nên đi chiêm bái các Phật tích và Thánh tích, đồng thời vua còn cho dựng các trụ đá khắc bia kỹ niệm, nhờ các Trụ đá nầy mà ngày nay chúng ta xác minh được những nơi quan trọng trong sự tích của Đức Phật Thích Ca, và Đức Phật Thích Ca là một con người có thật trong lịch sử nhân loại chứ không phải là huyền thoại ! Vua đến chiêm bái các Phật tích quan trọng sau :

    a. Vườn Lâm-tì-ni (Lumbini) , nơi đức Phật Thích Ca giáng sinh.

 [Trụ đá nầy đã bị mất con ngựa trên đỉnh, hiện chỉ còn trụ đá tròn, được Nhà khảo cổ Furère phát hiện năm 1806 và sau đó đã được Chánh phủ Népal công nhận.]

   b. Bồ-đề Đạo tràng (Bodhi Mandala hay Buddha Gaya) là nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, nay thuộc Tiểu bang Bihar của Ấn Độ. Năm 409, Cao tăng Pháp Hiển du học Ấn Độ đã đến chiêm bái Bồ đề Đạo tràng. Năm 637, Pháp sư Huyền Trang cũng đến chiêm bái Thánh tích tả lại như sau : “ Về phía đông cây bồ đề [nơi Đưc Phật ngồi thiền định suốt 49 ngày đêm và đắc đạo], có một tháp cao chừng 52 thước, nền tháp độ 20 thước vuông, tường bằng gạch xanh, trét vôi chu nam, các khám của mỗi tầng đều thếp vàng. Bốn mặt tường đều đầy những tượng khắc rất mỹ thuật, chỗ nầy là hình ảnh những chuỗi ngọc dài, chỗ kia là những vị tiên. Đỉnh tháp là một trái Am-lak bằng đồng thếp vàng. Mặt phía đông có một tòa lầu ba tầng … . Ở chỗ tháp hiện tại, vua A-dục có xây dựng một ngôi chùa, về sau, một người Bà-la-môn xây lại một ngôi đền to rộng hơn nhiều …”.

c. Lộc Uyển (Vườn nai) là nơi Đức Phật Thích Ca chuyển pháp luân, độ 5 vị Tỳ kheo đầu tiên, nay là Sarnath, thuộc Tiểu bang Utta Pradesh của Ấn Độ. Vua A-dục cho xây tháp và dựng  trụ đá; nhưng sau bị chiến tranh tàn phá. Hiện nay, Thánh tích nầy còn có : Tháp Dahmek (là chữ viết tắt của chữ Dhamma mukha, nghĩa là suy tưởng Chánh pháp), cây bồ đề, Tượng Đức Phật Chuyển pháp luân và Tượng Sư tử  bằng đá trên đỉnh Trụ đá của vua A-dục …

d. Câu-thi-na (Kusinagara) là nơi Đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn dưới hai hàng cây Sa-la, nay là Kasia ở quận Deoria, tiểu bang Utta Pradesh của Ấn Độ. Đến thế kỷ VII, Pháp sư Huyền Trang viếng Câu-thi-na kể lại như sau : “Kinh đô xứ nầy đều bị đổ nát. Về phía tây bắc thành phố độ 3, 4 dặm, vượt qua sông Ajitavi về phía tây không xa lắm, chúng ta đến khu rừng cây sa-la. Cây sa-la giống như cây huk, võ cây màu trắng xanh, lá lóng lánh và trơn dịu. Trong khu rừng nầy có 4 cây cao, có hơi khác hơn các cây khác, là chỗ Đức Phật nhập Niết bàn.

Tại chỗ nầy có một tinh xá bằng gạch, trong đó có tượng đức Như Lai nhập Niết bàn. Bên cạnh tinh xá là một ngọn tháp do vua A-dục dựng lên, dầu đã hư sụp, nhưng cũng còn cao khoảng 60 thước. Trước ngọn tháp nầy là một Trụ đá kỹ niệm Đức Phật nhập Niết bàn, trên trụ đá có khắc chữ nhưng không có ngày tháng [..…]. Phía bắc thành phố [Câu-thi-na], vượt qua sông và đi độ 200 bước, có một ngọn tháp. Đây là chỗ làm lễ Trà tỳ (Hỏa táng) nhục thân Đức Phật. Đất hiện tại đen vàng, than và đất xen lộn với nhau. Những Phật tử có lòng chí thành, đến tại chỗ nầy cầu nguyện, nhất định tìm được một vài xá lợi của Đức Phật.”

Thánh tích Câu-thi-na hiện nay còn Đại tháp Niết bàn và chùa thờ Tượng Phật nhập Niết bàn. Tượng Phật trong nằm nghiêng đầu quay về hướng bắc, mặt nhìn về hướng tây, hai chân chồng lên nhau, dài 7m. Tượng được tôn trí trên bệ đá dài và rộng.

Ngoài ra, vua A-dục còn đến chiêm bái những Thánh tích Phật giáo khác: Tinh xá Kỳ Viên, Tháp thờ Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, tháp Đại Ca-diếp, tháp A-nan …

3. Xây dựng Chùa Tháp.

Vua A-dục thực hiện rất nhiều Phật sự, ngoài việc hộ trì Chánh pháp, cúng dường tăng chúng, vua còn xây dựng rất nhiều chùa và tháp, nhiều sách viết là 84.000 chùa và tháp.

4. Kết Tập Kinh điển Phật giáo lần thứ Ba tại Pataliputra.

Vào thời vua A-dục, Phật giáo phát triển, tăng ni ngày càng đông, có nhiều người ngoại đạo cũng vào làm tăng, xảy ra nhiều tranh luận về Phật pháp, khó phân biệt chánh pháp hay tà ngụy. Vì vậy, vua muốn xác định lại giáo pháp của Đức Phật Thích Ca, nên vào năm vua ở ngôi thứ 18 (khoảng năm 255 TDl), vua cử sứ giả đến thỉnh Ngài Mục-kiền-liên-tử Đế-tu (Moggaliputta Tissa) ẩn dật ở núi A-hô-hằng-già (Ahoganga) lo việc kết tập Kinh điển lần thứ ba. Ngài Đế-tu tuyển chọn một ngàn vị Trưởng Lão về Hoa-thị-thành (Pataliputra) để kết tập Tam tạng Kinh điển Phật giáo. Đây là lần Kết tập Kinh điển lần thứ Ba của Phật giáo, được hoàn thành trong 9 tháng.

  5. Cử các Chánh Pháp Đại quan (Dharma Mahamata) đi truyền bá Đạo Phật ở nước ngoài.

Sau khi Kết tập Kinh điển, vua A-dục đã cử nhiều Chánh Pháp Đại quan đi truyền bá Phật pháp ở nhiều nước khắp bán đảo Ấn Độ, Tích Lan, các nước khắp vùng Đông Nam Á và Đông Á ngày nay :

– Mạt-xiển-đề (Majihatika) đến nước Kế-tân (Kashmira) và nước Kiền-đà-la (Gandhara), tức vùng Kashmir và miền bắc Ấn Độ ngày nay.

– Ma-ha-đề-bà (Mahadeva) đến nước Mahimskamandala (Ma-hê-sa-man-đà-la), tức vùng miền nam Ấn Độ ngày nay.

– Lặc-khí-đa (Rakkhita) đến nước Ba-na-ba-tư (Vanavasi), miền nam Ấn Độ ngày nay.

– Ha-lặc-khí-đa (Maharakhita) đến nước Du-na Lô-ca (Yonaja Loka), phía tây nước Afghanistan ngày nay.

– Đàm-vô-đức (Yonaka Dhammarakkhita) đến nước Aparantaka (A-ba-lan-đa-ra) ở vùng miền tây Ấn Độ ngày nay.

– Ma-ha-đàm-vô-đức (Mahadhammarakkhita) đến nước Mahanattha (Ma-ha-thích-đà) ở miền nam Ấn Độ ngày nay.

– Mạt-thi-ma (Majjhima) và Ca-diếp-ba (Kaspaya) đến xứ núi Tuyết, tức vùng nước Népal ngày nay.

– Ma-sân-đa (Mahinda), Uất-đế-da (Uttiya), Tham-ba-lâu (Sambala), Bạt-đà (Bhaddsala) đến nước Sư Tử (nước Tích Lan ngày nay).

– Tu-na-ca (Sonaka) và Uất-đa-la (Uttara) đến Xứ Vàng (Suvannabhumi). Xứ Vàng hay Kim Địa có thể là vùng Đông Nam Á ngày nay. Phái đoàn nầy còn có thể đến cả Trung quốc.

Sau đó, vua tiếp tục cử các Chánh pháp Đại quan và các Phái đoàn đi truyền bá Phật pháp ở nhiều nước ở Phương Tây, tức các nước ở vùng ven Địa Trung hải như  Hy lạp, Macédonia, Iran, Syria, Ai Cập … .

Vua A-dục còn ban hành các Pháp Sắc và các Bản văn về Phật pháp khắc vào các Trụ đá ra lệnh : Cứ 5 năm, vua triệu tập Hội nghị các quan về Tư pháp và Thu thuế để bàn thảo về “Pháp”, dựng lập “Pháp” và cử thêm các Chánh pháp Đại quan Dhamma Hahamata.

Đặc biệt, con của vua A-dục là Ma-sần-đà (Mahinda) có công lớn trong việc truyền bá đạo Phật ở đảo Sư Tử (nước Tích Lan), và Phật giáo tiếp tục phát triển từ đó cho đến hiện nay.

Sau khi vua A-dục mất, vẫn còn nhiều Phái đoàn đi truyền bá Phật giáo ở các nước Trung Á (Khotan = Cô-tàn …), Trung quốc, Tây Tạng, Mông Cổ, Nhật Bản, có thể cả Việt Nam … .

Nền văn minh Ấn Độ thời Vương triều Khổng Tước (Maurya) chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ, Hy Lạp và Ba Tư. Và nền văn minh nầy ảnh hưởng đến Phật giáo các nước chịu ảnh hưởng của Đế quốc Ma-kiệt-đà thời vua A-dục.

Vua A-dục lập nhiều công đức trong việc truyền bá đạo Phật ở Ấn Độ và nhiều nước như thế, nhưng có lẽ vua phải chịu trả những nghiệp quả về sự tàn ác, sát hại nhiều người lúc còn trẻ vì chưa hiểu Phật giáo; nên về già, vua phải sống trong những hoàn cảnh vô cùng bi thảm : Hoàng hậu Đê-sa-la-xoa (Tassarakkha) muốn tư thông với Hoàng tử Câu-na-la (Kunala), nhưng bị cự tuyệt, nên Hoàng hậu sai người móc mắt Hoàng tử. Vua nổi giận, cho thiêu sống Hoàng hậu, và đem tất cả các của quí báu cúng dường và bố thí hết. Theo ngài Huyền Trang kể  lại, về già, vua A-dục bị cháu nội và quần thần phế ngôi và lấy hết quyền hành, Ngài không còn gì để cúng dường cho chư Tăng; ngay cả phần ăn của Ngài cũng bị giảm dần, cuối cùng, họ chỉ cấp cho Ngài mỗi bữa ăn nửa trái Analaka; và vua cũng tặng nửa tráianalaka đó cho sư huynh.

Vua A-dục mất trong cảnh âm thầm và ảm đạm, không được ai biết đến, vào khoảng  năm 231 trước Dương lịch (?).

Vào thời Hùng Vương, nước Văn Lang (Việt Nam) đã có phong tục tập quán và ngôn ngữ riêng của người Việt, khác với Trung Hoa. Người Việt thời Hùng Vương  đã chịu ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo Ấn Độ, đồng thời ngôn ngữ và văn minh Việt Nam thời xưa cũng  đã có một số ảnh hưởng trong Đại Tạng Kinh Phật giáo.

Vào thời Nhà Triệu (207 TDl – 111 TDl), ở Việt Nam đã có chùa Phật rồi. Năm 111 trước Dương lịch, vua Hán sai hai tướng Duơng Bộc và Lộ Bác Đức đem quân đánh Nam Việt, Tể tướng Lữ Gia và vua Triệu Thuật Dương thua trận, chạy trốn. Trong sách “Thiên Nam Ngữ lục” của Thiền sư Chân Nguyên (1647-1728), kể chuyện Tể tướng Lữ Gia lánh nạn đến núi Sài Sơn ( hay núi Phật Tích ở tỉnh Hà Tây ngày nay), đã nhìn thấy “dấu tích của ngôi chùa Trúc Viên” hoang vắng :

“Gia bỏ cửa mốc nhà rêu,

Hang thần trật lối, hồn phiêu đường nào.

Nước nên thấy những đồng đao,

Cõi bờ tấc đất vào chầu Hán gia.

Non Sài tuyệt chẳng vào ra,

Thấy còn một dấu vườn là Trúc Viên,

Đìu hiu ngoài cảnh thiền thiên,

Thuở trưa quyên khóc, thuở đêm hạc sầu.”

Sau đó, Lộ Bác Đức bắt được vua và Lữ Gia, ba quan Sứ của quân Việt đem lễ vật và sổ bộ của ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam đến xin hàng. Lộ Bác Đức cho ba người ấy làm Thái thú ở ba quận để trị dân như cũ.

Nhà Hán lấy đất Nam Việt chia làm 9 quận : Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô, Uất Lâm (Quế Lâm), Hợp Phố (Nhà Tần là Tượng Quận, nay thuộc Liêm Châu), Châu Nhai và Đạm Nhĩ (hai đảo lớn trên biển), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Vua Tây Hán cử Thạch Đái trông coi 9 quận, trị sở đặt tại Mê Linh.Long Biên. Đến đầu, trị sở Giao Chỉ đặt tại

Vào năm 30, đầu thời Đông Hán (23-220), vua Hán Quang Vũ cử Tô Định làm Thái thú Giao Chỉ, trị sở được dời về Liên Lâu hay Luy Lâu (làng Dâu, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Thái thú Tô Định cai trị tàn bạo, tham lam, hà hiếp, bốc lột dân Việt.

 Vào năm 39, Thái thú Tô Định giết chết Lạc tướng huyện Chu Diên là Thi Sách (chồng bà Trưng Trắc), vì vậy, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị khởi binh chống quân Hán. Hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị là con của Lạc Tướng huyện Mê Linh (Thời Nhà Hán đô hộ, huyện Mê Linh bao gồm vùng đất tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn Tây ngày nay).

Hai Bà đánh chiếm Phủ thành Liên Lâu, Tô Định bỏ chạy về Trung quốc, các quận Nam Hải, Hợp Phố, Cửu Chân, Nhật Nam … đều hưởng ứng. Hai Bà chiếm được 65 thành trì của vùng đất Lĩnh Nam (phía bắc lên đến tận vùng Động Đình Hồ của Trung quốc, phía nam xuống đến vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngãi của Trung Bộ ngày nay).

Như vậy, Phật giáo được du nhập vào Việt nam vào thời Hùng Vương, hay vào thời vua A-dục, vào khoảng thế kỷ III trước Dương lịch. Sau thời gian hình thành trong vài thế kỷ, Phật giáo Việt Nam bắt đầu phát triển vào thế kỷ đầu của kỷ nguyên Dương lịch và đạt đỉnh cao với Trung tâm Phật giáo Liên Lâu (hay Luy Lâu) vào thế kỷ II – III.

III.TUYẾN ĐƯỜNG PHẬT GIÁO từ ẤN ĐỘ DU NHẬP VÀO VIỆT NAM .

Việt Nam và bán đảo Đông Dương nằm giữa hai nước lớn, đồng thời là hai nền văn minh cổ xưa nhất của loài người : Ấn Độ và Trung Hoa.

Ấn Độ rất giỏi về ngành hàng hải và ngành buôn bán. Sau khi Phật giáo hình thành và phát triển (Thế kỷ VI Trước Dương lịch), ngành thương mãi bằng đường biển phát triển mạnh. Nhờ đó, Phật giáo cũng được truyền bá ra nước ngoài và trở thành nước trung gian trong việc thương mãi giữa các nước Tây phương và Đông phương. 

Về phương Tây, Ấn Độ buôn bán với các nước Tây Á (Khương Cư, Nhục Chi, …), các nước vùng Lưỡng Hà (Iran, Irak, …), các nước ven Địa Trung Hải (Phénicie, Assyrie, …) và Đế quốc La Mã (Hy Lạp, La Mã, …). Ấn Độ bán cho Đế quốc La Mã và các nước phương Tây các loại hàng hóa như : vàng ngọc, châu báu, tơ lụa, gỗ quí, hương liệu, ngà voi, lông thú, và những thú lạ …. Hàng hóa mua của Tây phương gồm : các loại kim khí, đồ thủy tinh, đồ gốm, rượu vang, ngựa …

Về phương Đông, Ấn Độ buôn bán với Trung Hoa và các nước Đông Nam Á: Miến Điện (Myamar), Xiêm (Thái Lan), Mã Lai (Malaya), Diệp Điều quốc, Thất Lợi Phật Thệ (Indonesia), Phù Nam (Nam Bộ), Chân Lạp (Campuchia), Lâm Ấp (Chiêm Thành hay Champa), Văn Lang (Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam) ; và Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản …

Phật giáo cũng được truyền bá theo các đường giao thương buôn bán đó…

Riêng về việc giao thương giữa hai nền văn minh cổ ở phương Đông : Ấn Độ và Trung Hoa, Việt Nam là trung gian.

Phật giáo ở Ấn Độ phát triển ra nước ngoài mạnh nhất là thời vua A-Dục (giữa thế kỷ III TDL); và sau đó, là vào thời vua Kanishka (78 – 144) của Vương quốc Kushana (bao gồm Ấn Độ và các nước An Tức, Sớ Lặc, Vu Điền, đến sát biên giới Trung quốc).

Lúc đầu, Phật giáo du nhập vào Việt Nam theo đường biển : Các tăng sĩ Phật giáo theo các thuyền buôn để chú nguyện cho chuyến đi được thuận buồm xuôi gió, buôn may bán đắc … Trên thuyền thời đó thường thờ cúng Phật Nhiên Đăng (Dipankara) và Bồ tát Quan Thế  Âm (Avalokitesvara).

Phật giáo truyền từ Ấn Độ sang Việt Nam và Trung Hoa theo đường biển:

Đường biển từ Ấn Độ đến Giao Châu (Việt Nam), và Quảng Châu (Trung quốc): theo hai đường :

1- Từ Bắc Ấn Độ qua eo biển Malacca, Thất lợi phật thệ, Phù Nam, Panduranga, đảo Tiêm Bút La đến Giao Châu và Quảng Châu.

2- Từ Nam Ấn Độ qua đảo Tích Lan, Bantam (đảo Java), Thất Lợi Phật thệ (đảo Sumatra), Panduranga (Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết), đảo Tiêm Bút  La (cù lao Chàm ở tỉnh Quảng Nam), đến Giao Châu, và Quảng Châu

Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Việt Nam bằng đường bộ theo hai đường:

1- Từ Ấn Độ sang các nước Trung Á vào Trung Hoa theo con đường tơ lụa: qua các nước Trung Á  như An Tức, Kế Tân, Đại Nhục Chi, Vu Điền, … đến Trung Hoa, rồi từ Trung Hoa truyền sang Việt Nam.

2- Từ Bắc Ấn Độ vượt dãy núi Thông Lĩnh, qua Pyu (Miến Điện), Tây Tạng, Nam Chiếu (Vân Nam), Lào, rồi vào  Giao Châu (miền Bắc Việt Nam). [Vào thời Nhà Lý, Thiền sư Không Lộ và Giác Hải qua Ấn Độ cầu pháp theo đường nầy].

Chương II :

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM (THẾ KỶ I – V)

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Hùng Vương (Thế kỷ III TDL), nhưng chưa biết  sự hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam như thế nào vì không có sách sử ghi chép ; tuy nhiên theo các tài liệu và di tích ở nhiều chùa đình đền miếu cổ xưa trong khắp miền Bắc (lãnh thổ Giao Chỉ hay Giao Châu xưa) cho thấy rằng : đến thế kỷ I, đầu kỷ nguyên Dương lịch, Giao Chỉ chẳng những đãõ có nhiều tăng sĩ mà còn cả tỳ kheo ni tu hành ở nhiều chùa trong khắp cả nước. Thật vậy, ngay trong thời Nhà Hán đô hộ (111 TDL – 39), Bộ Giao Chỉ đã có nhiều chùa với nhiều tu sĩ, nhiều Phật tử  đến chùa làm công quả, tu học, hay xuất gia, trong đó có nhiều người thuộc giới nữ.

I.PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỜI HAI BÀ TRƯNG (40-43).

Sau khi đánh bại quân Hán xâm lược, Trưng Vương đã nhận các Nữ tướng làm con, nên các vị nầy trở thành các Công chúa. Vào thời Hai Bà Trưng (40 – 43), ở Việt Nam đã có nhiều chùa và tu sĩ, nhiều Nữ tướng của Hai Bà đã có thời gian tu học ở các chùa, hay xuất gia tu hành như : Tỳ kheo ni Quách A, các Công chúa: Bát Nàn, Thiều Hoa, Vĩnh Huy, Phương Dung, Hương Thảo, Chiêu Dung, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ….

1. TỲ KHEO NI QUÁCH A

Tỳ kheo ni Quách A sống vào thời Nhà Hán đô hộ Việt Nam. Vào khoảng những giữa năm 30 – 40, Thái thú Tô Định cai trị tàn ác, bốc lột, hà hiếp nhân dân.

Tại Ngã ba Bạch Hạc, có một xóm chài, dân đánh cá, làm lụng đầu tắt mặt tối quanh năm mà vẫn không đủ ăn; họ còn phải nộp cho bọn giặc Tàu tuần tra trên sông những con cá to mà họ bắt được. Lúc đó, Quách A mới khoảng 13 tuổi, nhưng cô bắt cá giỏi không thua gì người lớn. Cô bắt được cá to đem giấu đi, bán lấy tiền nuôi cha mẹ già. Cô căm thù giặc, nên những khi nhàn rỗi, thường vào rừng tập võ nghệ, đánh kiếm, bắn cung, ném lao….

Năm 16 tuổi, cha mẹ đều qua đời, Quách A rời bỏ quê nhà, qua vùng khác, vào chùa xuất gia tu hành, trở thành Ni cô, nên được gọi là Tỳ kheo ni (Khâu ni). Nhưng dù đi đến đâu, Tỳ kheo ni Quách A vẫn thấy cảnh quân Hán tàn ác, hiếp đáp, giết chốc dân Việt …, lòng căm thù giặc càng nung nấu….

Một ngày kia, sư cô Quách A đi đến khu rừng vắng vẻ ở thôn Nhật Chiêu (nay thuộc xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc), thấy một ngôi chùa bỏ hoang; hỏi dân làng mới biết, vùng nầy có nhiều cọp, beo, gấu… thường ăn thịt người, nên dân chúng không dám lai vãng, vì thế, chùa bị bỏ hoang phế. Sư cô xin với dân làng được về trụ trì chùa đó. Sư cô xây dựng lại chùa Nhật Chiêu, thiện nam tín nữ đến chùa ngày càng đông. Ngoài việc giảng giải Phật pháp, Sư cô còn dạy võ nghệ cho nam nữ thanh niên.

  Một đêm mưa to gió lớn, sấm chớp vang trời, rung chuyển rừng núi. Trong chùa đang an goấc, chợt nghe tiếng cọp gầm thét bên ngoài. Sư cô đốt đuốc, cùng một số thiếu nữ ra xem. Trước sân chùa, một con cọp to đang trở dạ sinh đẻ. Thấy duốc sáng và nhiều người lạ, cọp gầm gừ, nhe nanh vơ vuốt, sợ người ta bắt mất con. Sư cô nói nhẹ nhàng :”Ngươi chớ sợ, ta tu hành, không sát sanh, không hại ngươi; nhưng ngươi đừng đến đây nữa, làm người ta sợ”. Cọp như hiểu được lời của sư cô, nên gật đầu, rồi cắp con đi. Từ đó, cọp không đến chùa nữa. Do đó, sư cô Quách A càng được nhiều người biết tiếng.

Năm 40, Hai Bà Trưng nổi lên chống giặc, sư cô mời thêm 13 bạn trẻ trai gái ở vùng Bạch Hạc đến chùa để bàn kế hoạch tham gia khởi nghĩa chống giặc. Sư cô và các bạn thành lập được một Đạo quân thủy và bộ gồm cả ngàn người. Tỳ kheo ni Quách A chỉ huy đạo quân đến vùng sông Hát hội quân với Hai Bà. Hai Bà phong cho Quách A làm Tiên phong Tả Tướng quân Thủy binh; trong khi sư cô Thiều Hoa ở chùa Phúc Thánh (thuộc vùng Phú Thọ) cũng được phong làm Tiên Phong Hữu Tướng quân Thủy binh; sư cô Bát Nàn ở chùa xã Tiên La được phong làm Tiên phong Tướng quân Bộ Binh.

Khi Hai Bà tiến đánh Phủ thành Liên Lâu (Luy Lâu) của Thái thú Tô Định, Hai Nữ tướng Quách A và Thiều Hoa chỉ huy hai đạo Thủy quân Tiên phong: đạo quân của Quách A  theo dòng sông Thao, đạo quân của Thiều Hoa theo dòng sông Đuống cùng tiến về sông Dâu đánh thành Liên Lâu. Trong khi Nữ tướng Bát Nàn chỉ huy đạo quân Tiên phong của Bộ binh, với sự tiếp ứng Đại quân của Hai Bà ở phía sau, cùng tấn công thành Liên Lâu. Quân giặc thua trận bỏ chạy, Thái thú Tô Định bỏ cả ấn tín, vàng bạc, cởi áo, cạo râu trốn theo đám tàn quân tháo chạy về Trung quốc.

Sau khi giành được độc lập cho đất nước, Hai Bà lên ngôi vua. Trưng Nữ vương phong chức tườc cho các tướng sĩ có công. Các Nữ tướng Quách A, Thiều Hoa, Bát Nàn … được phong làm Công chúa. Các công chúa trở về chùa cũ tu hành:

Công chúa Quách A về chùa xã Nhật Chiêu (Vĩnh Phúc). Riêng chùa Nhật Chiêu còn được Trưng Vương cấp cho một “Trống Lệnh” bằng đồng, nên chùa Nhật Chiêu còn được gọi là chùa Huyền Cổ (Huyền Cổ Tự).

Công chúa Bát Nàn về chùa xã Tiên La (Thái Bình).

Công chúa Thiều Hoa về chùa Phúc Khánh (Phú Thọ).

Tỳ kheo ni Quách A vừa truyền giảng Phật pháp cho Phật tử, vừa hướng dẫn, khuyến khích dân chúng địa phương khai hoang rừng núi, mở rộng ruộng đồng, vườn tược, lập thêm trang ấp mới, phát triển nông nghiệp ….

Hai năm sau, vào ngày mùng 10 tháng Chạp âm lịch (đầu năm 42 Dương lịch?), Tỳ kheo ni Quác A viên tịch tại chùa Huyền Cổ ở xã Nhật Chiêu (nay thuộc xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc).

Hằng năm, nhân dân làng Nhật Chiêu tổ chức Lễ Hội tại chùa Huyền Cổ vào các ngày Mùng 6 tháng Giêng, Rằm tháng 2, mùng 10 tháng Chạp âm lịch để cúng tế Công chúa Quách A và tướng sĩ, nên cúng cả thức ăm chay và thức ăn mặn. Cúng Tướùng sĩ bằng trâu, thui nguyên con, người dự lễ dùng dao cắt một miếng thịt thui ăn ngay tại chỗ…

2. CÔNG CHÚA BÁT NÀN       

 Công chúa Bát Nàn, tên là Vũ Thị Thục, con của ông Vũ Công Chất và bà Hoàng Thị Mầu ở thôn Bạch Hạc, làng Phượng Lâu, huyện Kim Động, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Ông Vũ Công Chất là Thầy thuốc, nhân từ, làm nhiều việc phước đức, còn có công trong việc tu sửa Miếu Bạch Hạc, và tạc tượng thờ Thần Tản Viên và công chúa Ngọc Hoa. Ông có một người con gái rất xinh đẹp, thông minh, học giỏi, giỏi cả võ nghệ, và bơi thuyền cũng rất giỏi.

Năm cô Thục 18 tuổi, được hứa hôn với Phạm Danh Hương, con một hào mục nổi tiếng ở Liệp Trang, huyện Nam Chân. Hương 20 tuổi, tuấn tú, tinh thông văn võ.

Vào thế kỷ I, thời Nhà Hán Đô hộ Việt Nam, thái thú Tô Định tàn ác, sai quan quân đến bắt Bà về làm hầu thiếp. Ông Vũ từ chối vì Bà đã có hứa hôn rồi. Quân Tàu dùng võ lực, gia đình Bà chống cự. Cha và vị hôn phu bị giết chết, Bà cầm song đao tiếp tục chống cự, nhưng sức yếu, thế cô; Bà bị thương, phá được vòng vây, lên thuyền chạy đến trốn lánh ở chùa xã Tiên La, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Sư trụ trì đã được báo mộng, biết trước, nên che giấu , cho Bà qui y và tu ở chùa.

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán, Bà chiêu mộ được một đạo nữ binh đông đến 3000 người, đánh giặc giỏi, nên được cử làm Đại Tướng chỉ huy đạo quân Tiên phong của Bộ binh. Lập được nhiều chiến công, nên được phong là “Tướng quân Bát Nàn” (Tướng quân Dẹp Nạn).

Năm Canh Tý (40), Hai Bà đánh bại quân Hán, chiếm lại 65 thành của Lạc Việt, giành độc lập cho đất nước, lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh. Để ban thưởng các chiến công, và tỏ lòng thương mến, Trưng Vương phong cho Nữ tướng Bát Nàn làm Công chúa Trinh Thục.

 

Sau những đau thương của cảnh mất cha, mất chồng; cảnh quân Tàu tàn ác đối với dân Việt; cảnh chém giết, tàn sát trong chiến tranh; và nhất là nhớ đến thời gian tu học ở chùa, được sư phụ thuyết giảng, được đọc kinh sách; giờ đây, lại được sống trong cảnh giàu sang nhung lụa, an bình; công chúa Bát Nàn có thời gian suy tư, quán tưởng, nhờ đó ngộ được lý Đạo Phật, nên xin từ quan để về chùa tiếp tục tu hành. Công chúa xuất gia trở lại ở chùa xã Tiên La.

Sau thời gian tu hành tinh nghiêm, lập nhiều công đức trong việc hoằng truyền chánh pháp, Công chúa Bát Nàn viên tịch ở chùa Tiên La. Dân chúng ở xã Tiên La nhớ ơn Bà, nên lập Đền thờ; hằng năm mở Lễ Hội vào ngày 16 tháng 3 âm lịch, dân chúng khắp nơi về cúng rất đông. Có thể Bà đã được đắc pháp, nên dù mất rồi, nhưng vẫn linh hiển cho đến hiện nay ; dân chúng khấn nguyện đều được linh ứng. Vì vậy, ở tỉnh Thái Bình hiện vẫn còn hằng chục ngôi Đền thờ Bà. Nhưng tiếc là, chúng ta hiện nay không biết Bà có pháp danh gì, tu học với vị Tổ nào, truyền thừa như thế nào ?

3. CÔNG CHÚA PHÙ VƯƠNG (BÀ THIỀU HOA)

Bà Thiều Hoa sanh ngày mùng 2 tháng Giêng năm Quí Tỵ (năm 3), quê ở vùng động Lăng Xương (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), là vùng đất linh thiêng nổi tiếng từ thời Hùng Vương; con của ông Hoàng Phụ và bà Đào Thị Côn. Thiều Hoa là con gái đẹp, hiếu hạnh, giỏi võ nghệ. Khi mới 16 tuổi, nhiều gia đình trong vùng muốn ngỏ lời rước về làm dâu, nhưng Thiều Hoa đều từ chối, chỉ muốn lo chăm sóc cha mẹ già. Mấy năm sau, cha mẹ đều mất. Thiều Hoa vào chùa Phúc Khánh ở làng Hiền Quang ( thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nayï) xin tu học. Tụng kinh, niệm Phật, tham học kinh điển tinh nghiêm một thời gian.

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Bà Thiều Hoa chiêu mộ được 500 quân ở làng Hiền Quang, kéo về dự lễ Hội thề Xuất quân .

 Hai Bà đánh bại quân nhà Hán, chiếm lại 65 thành trì của dân Lạc  Việt, lên ngôi vua năm CanhTý (năm 40). Nữ Tướng Thiều Hoa xin Trưng Vương cho  từ quan, trở về chùa tu hành. Bà trùng tu lại chùa Phúc Khánh, với sự hỗ trợ của Trưng Vương, và chí tâm tinh tấn trong việc hoằng truyền Phật pháp. Năm sau, Bà mất tại chùa Phúc Khánh, Trưng Vương truy phong cho bà Thiều Hoa làm  “Phù Vương Công chúa” (Công chúa phò giúp Vua), và ra lệnh cho quan quân , cùng dân chúng lập Đền thờ.

Từ đó, vào ngày Sinh nhật của Bà, ngày mùng Hai Tết âm lịch, dân chúng địa phương tổ chức Lễ Hội kỹ niệm, tổ chức duyệt binh. Đến ngày 12 và 13 tháng Giêng âm lịch, dân địa phương tổ chức Hội Phết ở Đền Hiền Quang. Đánh Phết là đánh cầu gỗ bằng gậy cong ở đầu. Bà Thiều Hoa là người khai sáng ra Hội Phết Hiền Quang.

 Hiện nay, ở đền Hiền Quang và chùa Phúc Khánh tại làng Hiền Quang, huyện Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ, vẫn còn tổ chức “Hội Phết” vào ngày 13 tháng Giêng để tưởng nhớ Bà Thiều Hoa, hay Công chúa Phù Vương. Ở nhà Tiền Tế của đền Hiền Quang còn treo tấm hoành có bốn chữ Nho lớn: “Diệt Bạo Tướng Phật”, và nhiều câu đối nói về Bà từng phò Hai Bà Trưng, tu hành và viên tịch ở chùa Phúc Khánh.

4. CÔNG CHÚA CHIÊU DUNG.

 Công chúa Chiêu Dung tên thật là Lý Thị Ngọc Ba, vợ của Đặng Thanh, quê ở quận Cửu Chân, sau về nhập cư ở vùng Đất Cốc. Hai ông bà có 5 người con trai, đều quyết chí kháng chiến chống quân Hán xâm lược ở vùng Đất Cốc.

Sau khi ông Đặng Thanh chết, bà Ngọc Ba cùng 5 con tiếp tục chiến đấu ở vùng bờ phía tây sông Đáy: Bà Ngọc Ba cùng con trai trưởng đóng ở giữa làng Cốc, đồn tiền tiêu đóng ở Cốc Thượng do Đặng Nghiễm và Đặng Liễu chỉ huy, đồn Cốc Hạ do Đặng Diên và Đặng Tiên trấn giữ.  Quân Hán tấn công tiêu diệt căn cứ Đất Cốc. Bà Ngọc Ba cùng các con yếu thế, phải rút lui, phân tán lực lượng. Sáu mẹ con Bà về ẩn tránh ở chùa Hương Lang, dưới sự che dấu của Thiền sư Đạo Uẩn. Mẹ con bà Ngọc Ba giả làm người tu hành ở chùa. Ngày ngày lo tụng kinh niệm Phật, nhưng đêm thanh vắng vẫn luyện tập võ nghệ.

Đến khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, bà Ngọc Ba cùng các con và thuộc hạ tụ về tham gia kháng chiến và phát triển căn cứ ở vùng Đất Cốc. Năm 40, Hai Bà đánh thắng quân Hán xâm lược, Trưng Vương phong cho Lý Thị Ngọc Ba làm Công chúa Chiêu Dung, cai quản đội nghĩa binh và căn cứ Đất Cốc.

Năm 43, quân Hán lại đánh chiếm nước Việt, Hai Bà thua trận, Công chúa Chiêu Dung về ẩn tu, theo học với Thiền sư Đạo Uẩn ở chùa Hương Lan, vùng Đất Cốc,  nay thuộc xãõ Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ , tỉnh Hà Tây. 

5. CÔNG CHÚA PHƯƠNG DUNG .

Bà Phương Dung cùng hai người con nuôi là Trung Vũ và Đài Liệu theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Nhà Hán xâm lược. Năm 40, cuộc kháng chiến thành công, giành được độc lập cho dân tộc, Hai Bà lên ngôi vua. Trưng Vương phong cho bà Phương Dung làm Công chúa, Trung Vũ làm Tả Tướng quân, Đài Liệu làm Hữu Tướng quân. Năm 43, quân Hán lại xâm lăng nước Việt, Hai Bà thua trận, tuẩn tiết. Công chúa Phương Dung về ẩn tu ở chùa Thanh Vân, trang Yên Phú, huyện Thanh Đàn, trấn Sơn Nam ( nay là thôn Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Ngoại Thành Hà Nội). Sau khi Bà mất, được thờ ở chùa Thanh Vân (Thanh Vân Cổ Tự). Trung Vũ và Đài Liệu sau khi mất cũng được dân làng thờ làm Thần Thành hoàng của làng (kỵ giỗ ngày mùng 7 tháng 11 âm lịch).

6. BÀ VĨNH HUY

Bà Vĩnh Huy quê ở huyện Đông Triều, trấn Hải Dương, theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán lúc mới 16 tuổi. Sau khi Hai Bà Trưng  thua trận, tuẩn tiết, Bà Vĩnh Huy về ẩn tu ở chùa làng Cổ Châu (làng Dâu), huyện Tiên Du, trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Chùa Cổ Châu hay chùa Dâu, hay chùa Pháp Vân sau nầy rất nổi tiếng, từ bà Man Nương đến Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi; trở thành Tổ đình của phái Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi; cho đến đời Lý, đời Trần và còn đến ngày nay …

7. NỮ TƯỚNG HƯƠNG THẢO.

Nữ tướng Hương Thảo có tên thực là Thảo, con nhà nghèo, có sức khỏe và cắt cỏ rất giỏi. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Thảo theo Nữ tướng Thánh Thiên đánh giặc, lập được nhiều chiến công, được ban cho tên hiệu là Hương Thảo. Hương Thảo được giao cai quản đội Nữ quân chuyên lo việc nuôi các voi chiến và ngựa chiến. Hương Thảo tổ chức những nông trại chuyên trồng cỏ trong vùng đồng bằng châu thổ ở vùng Bích Tràng. Hương Thảo thường đến cúng dường và chăm lo trùng tu chùa Cỏ ở vùng đó.

Đầu năm 43, quân Hán dưới quyền chỉ huy của Mã Viện sang đánh chiếm nước Việt, quân của Hai Bà Trưng yếu thế. Nữ tướng Hương Thảo tổ chức một trận hỏa công lớn ở Bích Tràng, diệt được nhiều tướng sĩ giặc, nhưng Bà cũng tử trận.

Nữ tướng Hương Thảo được dân làng thờ cúng ở chùa Cỏ.

8. HAI NỮ TƯỚNG NGUYỆT THAI VÀ NGUYỆT ĐỘ.

Nguyệt Thai và Nguyệt Độ là hai chị em sinh đôi, con của bà Tống Nga, tu ở chùa Thiên Thai trên núi Đông Cứu, ở xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Bà Tống Nga chết, Nguyệt Thai và Nguyệt Độ mới 16 tuổi, vẫn sống ở chùa Thiên Thai.

Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống quân Hán xâm lược, Nguyệt Thai và Nguyệt Độ mộ được một ngàn nam nữ nghĩa binh, theo Hai Bà kháng chiến , trở thành những Nữ Tướng, nổi danh trong trận đánh ở làng Me, thuộc vùng đất cổ, có nhiều cây me um tùm, quả sai hơn lá. Trong khi đó, tướng quân Võ Văn Ất, quê ở Văn Giang đánh hạ thành Kênh Cầu. Sau đó, Hai bà Nguyệt Thai và Nguyệt Độ, cùng Tướng quân Võ Văn Ất tiến quân về hợp với Đại quân của Hai Bà Trưng công phá thành Liên Lâu (Luy Lâu). Quân Hán thua trận bỏ chạy, Thái thú Tô Định phải cởi bỏ áo bào, mặc áo lính, cắt râu, lẫn trốn vào binh lính chạy về Trung quốc.

Năm 43, quân Hán lại đánh chiếm nước Việt, Hai Bà thua trận tử tiết. Hai Nữ Tướng Nguyệt Thai và Nguyệt Độ về ẩn tu trên núi Yên Tử (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), và hóa thân ở đây. Như vậy ở trên núi Yên Tử đã có người tu và chùa chiền từ trước thế kỷ I, đầu kỷ nguyên Dương lịch; và sau nầy, đến thời Nhà Trần (1225-1400), núi Yên Tử trở thành quê hương của phái thiền Trúc Lâm nổi tiếng của Thiền Tông Việt Nam.

Tương truyền, hai Nữ tướng hóa thân ở trên núi Yên Tử, nhưng dân làng Me vẫn lập Miếu thờ. Hằng năm, vào ngày sinh (mùng 10 tháng Giêng âm lịch), và ngày hóa (mùng 8 tháng 5 âm lịch), dân làng mở Lễ Hội để tưởng niệm ở Miếu cổ, tại làng Me, nay là xã Mỹ Thử, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.

Làng Hoạch Trạch, tên Nôm là Làng Vạc (nay là thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương ngày nay) cũng có đền thờ Hai bà Nguyệt Thai và Nguyệt Độ, và chùa Thánh Thọ.                                    

II. NGƯỜI VIỆT TRỒNG HOA UẤT KIM HƯƠNG ĐỂ CÚNG PHẬT (năm100).

Trong sách “Bản Thảo Cương Mục” của Lý Thời Trân (1518-1593), mục Uất kim hương viết:  “Sách Nam Châu dị vật chí của Dương Phù nói : Uất Kim hương đến từ nước Quyết Tân, người ta trồng để cúng Phật, vài ngày thì héo, sau đó giữ lại, màu nó vàng rộm, tương tự với nhụy hoa phù dung và sen non, có thể dùng để ướp rượu.”

Trong sách “Quảng Châu tiên hiền chí” của Hoàng Tá (1490-1560) và sách “Bách Việt Tiên hiền chí” của Âu Đại Niệm viết năm 1554, ghi rằng : “ Dương Phù tên tự Hiểu Nguyên, người Nam Hải. Triều vua Chương Đế tìm người tài giỏi, ông đối đáp đúng cách, nên phong làm Nghị văn. Hòa Đế tức vị, dùng quân đánh Hung Nô. Phù tâu rằng: ‘Gầy dựng cơ nghiệp thì dùng võ, giữ lấy cơ nghiệp thì dùng văn, nên khi Nhà Châu thắng Nhà Ân thì có việc ca ngợi sự chấm dứt chiến tranh [ … ], vậy xin Bệ hạ hãy noi theo nếp đẹp của Tổ tông, đừng khinh dùng việc võ’. Năm Vĩnh Nguyên 12 [năm 100] có hạn, vua gọi Phù đến triều đình bàn việc được mất của Chính lịnh.[ … ]. Lúc bấy giờ, Nam Hải thuộc Bộ Giao Chỉ. Thứ sử Hà Tắc đi tuần Bộ của mình. Mùa Đông, Tắc trở về, tâu rằng: Chính quyền trung ương chọn Thứ sử không đúng phép, nên họ sau đó đã tranh giành nhau tôn thờ việc người khác, dâng tặng đồ trân quí, Phù bèn lựa nhũng đặc tính của sự vật, chỉ cho hiểu tính khác lạ của chúng; nhằm nói rõ ra, ông viết sách Nam Duệ vật chí [ … ]. Sau đó ông [Dương Phù] làm thái thú quận Nam Hải, lại làm sách Lâm Hải thủy  thổ ký. Người đời phục ông cao thức và không khinh thường sự dạy dỗ.”

Qua các sách xưa, chúng ta biết rằng : Nam Châu, Nam Duệ, hay Giao Châu đều là tên địa phương, chỉ chung vùng đất Giao Chỉ, một vùng đất thuộc miền bắc Việt Nam ngày nay. Như vậy, trong sách “Nam Châu dị vật chí”, Dương Phù bảo rằng : Một bộ phận người Việt Nam (Giao Châu) đã theo đạo Phật, và họ đã biết trồng hoa Uất kim hương để cúng Phật, vào khoảng năm 100 sau Dương lịch.

III. TRUNG TÂM PHẬT GIÁO LIÊN LÂU.

Phật giáo Việt Nam được du nhập từ thế kỷ III trước Dương lịch, và hình thành từ thế kỷ I, đầu kỷ nguyên Dương lịch với nhiều tu sĩ và nhiều chùa khắp nước (Giao Chỉ). Trong lúc đó,  ở Ấn Độ, vào thời vua Kanisca (Ca-ni-sắc-ca) [78 – 144], vương quốc Kusana đã mở rộng lãnh thổ chiếm gần hết bán đảo Ấn Độ, và sau khi Vua thôn tính các nước An Tức, Sớ Lặc, Vu Điền, ở miền Trung Á, biên giới vương quốc lan rộng đến sát biên giới Trung quốc. Vua Kansca lại là một Phật tử sùng mộ và nhiệt tâm vì Phật pháp giống như vua A-dục, tổ chức Kết tập Kinh Phật lần thứ tư tại thành Kanishkapura, nước Kasmitra, gồm 500 Cao tăng và Học giả. Sau đó cho khắc Tam Tạng kinh vào các bản bằng đồng, 12 năm mới hoàn thành, …. Nhờ đó, Phật giáo được truyền bá rộng khắp Vương quốc Kusana và phát triển mạnh sang các nước khác, trong đó có cả Việt Nam. Nhiều Cao tăng  Ấn Độ ra nước ngoài hoằng truyền Phật pháp, một số Cao tăng nầy đến Việt Nam (Giao Chỉ): Ma-ha-kỳ-vực, Khâu-đà-la, …. Đồng thời một số Cao tăng Ấn và Cao tăng các nước Trung Á (Nhục Chi, An Tức, Vu Điền …) đến Trung quốc hoằng truyền Phật pháp.

Đến cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III, Thái thú Sĩ Nhiếp (người Việt gốc Hoa, không phải là người Hoa, vì Tổ tiên của Ông đã qua Việt Nam 6 đời) cai trị Giao Châu (từ năm 187 đến năm 226), là bậc quân tử tài đức, lại là Phật tử mộ đạo, nên hết lòng chăm lo cho dân chúng, chú trọng việc giáo hóa cho dân, hộ trì Phật pháp …; nhờ đó, Giao Châu phát triển mạnh và trở nên cường thịnh, thái bình; Phật giáo phát triển…. Giao Châu hầu như tự trị, không bị lệ thuộc Nhà Đông Hán (23 – 243) như trước. Năm 203, Sĩ Nhiếp cho đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, ….

Trong lúc đó, tại Trung quốc, chiến tranh loạn lạc ngay ở trung tâm kinh đô Lạc Dương, Trường An và lan rộng khắp cả nước, đưa đến thời Tam Quốc (220 – 265) ; nhiều Cao tăng, Đạo sĩ (Lão giáo), Học giả (Nho giáo) Trung quốc và các nước Trung Á đang sống tại Lạc Dương, Trường An phải chạy về phương Nam để tỵ nạn chiến tranh, một số vị phải qua Giao Châu lánh nạn … Thái thú Sĩ Nhiếp chẳng những chăm lo cho cuộc sống của nhân dân, mà còn lo cho nền văn hóa dân Việt, lại hết lòng chiêu hiền đãi sĩ, …. Nhờ đó, kinh tế, văn hóa, xã hội Giao Châu phát triển nhanh, …; Phật giáo cũng phát triển và phủ thành Liên Lâu (Luy Lâu) trở thành Trung tâm Phật giáo nổi tiếng, vượt lên Trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Trung tâm Phật giáo Bành Thành của Trung quốc …

 Vì thế, Sĩ Nhiếp được tôn là Sĩ Vương, mà còn Nam Giao Học Tổ (Vị Tổ ngành Giáo dục  của Giao Châu ở phương Nam). Phật giáo Giao Châu cũng phát triển vượt hẵn Nho giáo và Lão giáo, nổi bậc với sách “Lý Hoặc Luận” của Mâu Tử (k.165 – k. 255), cùng các bản dịch hay chú giải các Bộ Kinh Phật giáo của Khương Tăng Hội (An ban Thủ ý, Lục Độ Tập kinh, Cựu Tạp Thí dụ kinh, …) sau nầy được đưa vào Đại Tạng Kinh .

Trung tâm Phật giáo Liên Lâu hình thành từ thời Sĩ Vương (130 – 226) và phát triển với các Cao tăng Việt Nam và nước ngoài như: Mâu Bác, Khương Tăng Hội, Khâu-đà-la, Ma-ha-kỳ-vực, bà Man Nương và Tứ Pháp; Chi Cương-lương-tiếp, Đạt-ma Đề-bà, Đạo Thanh (Đạo Hinh), Đạo Thiền, Huệ Thắng; Hiền Pháp sư, Đạo Cao, Đạo Minh, Đàm Hoằng, Huệ Lâm ….

Trong lúc đó, Phật giáo mới du nhập vào nước Đông Ngô của Ngô Tôn Quyền, nên năm 247, Cao tăng Khương Tăng Hội ( ? – 280) [Cha là người Khương Cư, mẹ là người Việt] phải sang giáo hóa, Ngô Tôn Quyền cho thành lập chùa Kiến Sơ  để Ngài hoằng truyền Phật pháp …  

 Năm 280, Nhà Tấn diệt Nhà Ngô, Giao Châu thuộc Tấn (280 – 420); sau đó, Nhà Tống (420 – 478), Nhà Tề (479 – 502), Nhà Lương (502 – 544) đô hộ Giao Châu ; nhưng chỉ lệ thuộc trên danh nghĩa, Giao Châu gần như vẫn được tự trị. Trung tâm Phật giáo Liên Lâu vẫn tiếp tục phát triển … Một số Tăng sĩ Trung Á sang Trung tâm Phật giáo Liên Lâu du học để chuẩn bị qua Ấn Độ nhưng chết ở Giao Châu (Vu Đạo Thúy, Vu Pháp Lan …); cũng có Cao tăng Trung quốc sang Giao Châu hoằng hóa (Đàm Hoằng) hay bị triều đình Trung Hoa kết tội đày sang Giao Châu (Huệ Lâm) … Một số Cao tăng từ Giao Châu sang hoằng hóa ở Trung quốc (Đạo Thiền) hay bị đưa sang Trung quốc (Huệ Thắng) ….

Từ trước đến nay, trong sách cổ có nêu danh Sĩ Vương là “Nam Giao Học Tổ”, nhưng nhiều người không tin, vì không thấy điều nào làm chứng cứ … Nhưng trong tình hình Việt Nam trong Thiên niên kỷ III bắt đầu phát triển như hiện nay, chúng ta đã dịch được nhiều kinh sách Phật giáo, phát hiện được nhiều tư liệu, tài liệu mới, … nhờ đó đã thấy được phần nào về sự ưu việt của nền văn hóa, văn minh Việt Nam thời Hùng Vương ; ngoài ra, còn phát hiện được nước Phù Nam cũng là truyền thừa của thời Hùng Vương đúng như tên gọi “Phò Nhà Nam”, không phải là phiên âm của chữ “Phnom” (Vua Núi) như nhiều học giả nước ngoài giải thích trước đây …

Chỉ qua tác phẩm “Lý hoặc luận” của Mâu Bác, và vài Bộ kinh được Khương Tăng Hội biên soạn, phiên dịch hay chú giải như Lục độ Tập kinh, An ban thủ ý, Tạp Thí dụ kinh, …; và qua tiểu sử của Sĩ Vương, Mâu Bác, Khương Tăng Hội … trong một số sách cổ của Trung Hoa hay trong Đại Tạng Kinh …, chúng ta có thể hiểu được phần nào nền Giáo dục của Việt Nam vào thời Sĩ Vương, từ đó, tôn danh “Nam Giao Học Tổ” của Sĩ Vương thật là xác đáng !!!

[Xem Hành trạng và các tác phẩm của Sĩ Vương và các Cao tăng hoằng hóa ở Trung tâm Phật giáo Liên Lâu nêu trên trong sách Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập I) của Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, và Bộ sách “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” của Nguyễn Hiền Đức]

IV. PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TIỀN LÝ (544 – 602)

Sau khi Sĩ Vương mất (130 – 226), mặc dầu Trung tâm Phật giáo Liên Lâu vẫn phát triển, nhưng chính sách đô hộ của Trung Hoa hà khắc hơn, một số quan đô hộ tham tàn và bạo ngược, dân Việt phải chịu khổ sở lầm than … Năm 541, Lý Bôn (Lý Bí) nổi lên đánh bại Thứ sử Tiêu Tư của Nhà Lương, giành lại độc lập cho dân tộc. Năm 544, Ngài lên ngôi, tự xưng là Nam Việt Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô tại Long Biên. Ngay khi lên ngôi, Vua Lý Nam Đế cho dựng chùa Khai Quốc trên nền cũ của một ngôi chùa cổ ở thôn Yên Trì tại kinh đô Long Biên.

Quốc vương Thiên tử ngọc phả lục kể về Nam Việt Đế như sau : Cha của Vua là Lý Công Đạt, mẹ là Lã Thị Hương, quê ở Phong Châu. Một hôm bà Hương nằm mộng thấy bay lên núi, muốn xuống núi nhưng không được, bỗng nhìn thấy rồng vàng, bà cưỡi lên thì được đưa xuống núi. Từ đó, bà có thai, ngày mồng 7 tháng Giêng, bà sinh ra Lý Bôn.

Thứ sử Tiêu Tư nghe theo thuộc hạ là Chu Năng, tìm giết hai mẹ con bà. Bà và con chạy về trốn ở chùa làng Táo Tuyến, huyện Chu Diên, [một tư liệu khác, cho biết, chùa đó là chùa Bảo Phúc, nay thuộc thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội]. Tại chùa hai mẹ con bà được sư trụ trì Triệu Quang Hành giúp đỡ và cho cháu là Triệu Quang Phục hầu hạ.

Sau đó, Lý Bôn cùng Triệu Quang Phục chiêu dụ hào kiệt, hợp cùng nghĩa quân của người anh em họ là Lý Phật Tử tiến đánh Long Biên, Tiêu Tư chạy về Trung quốc; lập nên triều đại Tiền Lý. Vua phong cha của Triệu Quang Phục là Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm Tướng Văn, Phạm Tu làm Tướng Võ.

Năm 545, Nhà Lương cử Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu và sai Trần Bá Tiên đánh chiếm Vạn Xuân. Vua Lý Nam Đế thấy thế yếu, nên rút quân về động Khuất Liêu (Hưng Hóa). Gần một năm sau, Lý Nam Đế đem quân tiến đánh Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt, nhưng thua trận, phải về động Khuất Liêu, giao cho Triệu Quang Phục tiếp tục chống quân Nhà Lương.  Thấy thế yếu, nên Quang Phục rút quân về Dạ Trạch (Hưng Yên). Trần Bá Tiên đánh mãi nhưng không chiếm được Dạ Trạch. Triệu Quang Phục được tôn gọi là Dạ Trạch Vương.

Năm 548, vua Lý Nam Đế băng, Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương.

 Nhà Lương phải rút Trần Bá Tiên về Tàu vì loạn Hầu Cảnh, giao cho Dương Sằn thống lĩnh binh Lương ở Giao Châu. Nhân đó, Triệu Việt Vương đánh chiếm lại thành Long Biên.(*)

Năm 557, Lý Phật Tử ở động Dã Năng đem quân về chống với Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương chia đất  Ô Diên (Hà Đông) và gả con gái cho Lý Phật Tử.

Nhưng năm 571, Lý Phật Tử đem quân đánh Long Biên, Triệu Việt Vương thua trận, nhảy xuống sông Đại Nha (Nam Định ) tự tận. Lý Phật Tử lên ngôi, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên).

Năm 580, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Trung tâm Phật giáo Liên Lâu, đến hoằng hóa tại chùa Pháp Vân, khai sáng Phái Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

Trong lúc đó, bên Trung quốc, năm 602, vua Tùy Văn Đế thống nhất đất nước, lập nên triều đại Nhà Tùy (603 – 617). Vua Nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân đánh Giao Châu, Lý Phật Tử xin hàng, bị đưa về Trung quốc.

Nhà Tùy đô hộ Giao Châu, đưa đến việc Trung Hoa đô hộ Việt Nam lần thứ ba (603 – 939). 

(*) Truyện Đầm Nhất Dạ trong sách Lĩnh Nam Trích quái viết thêm về Triệu Quang Phục như sau : Khi đóng quân trong Đầm Dạ Trạch, Triệu Quang Phục trai giới thiết đàn ở trong đầm, đốt hương cầu đảo. Thoát thấy Thần nhân cỡi rồng giáng xuống giữa đầm, bảo Quang Phục rằng: “Ta lên trời  nhưng linh dị còn ở đây, người có lòng thành cầu đảo, Ta đến giúp để bình loạn tặc.” Rồi cởi vuốt rồng cho Quang Phục bảo giắt vào đầu mâu, hễ đánh đâu là được đó. Nói đoạn bay lên trời.

Triệu Quang y như lời dặn, đem binh đột kích, binh Lương đại bại, chém được Dương Sằn ở trận tiền, binh Lương lui chạy. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, lên làm Triệu Vương, đóng đô ở quận Vũ Ninh, núi Trâu Sơn./.

CHƯƠNG III :
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ VI ĐẾN THẾ KỶ IX

Sau khi đánh bại Hai Bà Trưng, Nhà Đông Hán (23-243) mở đầu cho thời kỳ Trung Hoa Đô hộ Việt Nam lần thứ hai (43 – 543).
Trong thời Thái thú Sĩ Nhiếp cai trị Giao Châu (187-226), chỉ bị Nhà Hán đô hộ trên danh nghĩa, Sĩ Vương được toàn quyền cai trị, không bị lệ thuộc Trung Hoa, đưa đến sự hình thành và phát triển của Trung tâm Phật giáo Liên Lâu (Luy Lâu).
Sau khi Sĩ Vương mất (năm 226), chính sách đô hộ của Trung Hoa hà khắc hơn, nhưng Trung tâm Phật giáo Liên Lâu vẫn phát triển, … 
Trong thời gian Nhà Tề (479-502) và Nhà Lương (502-557) đô hộ Giao Châu, các quan đô hộ hà khắc và tàn ác hơn, dân Việt lầm than khổ cực …
Năm 542, Lý Bôn (Lý Bí) nổi lên khởi nghĩa và đánh bại Thứ sử Tiêu Tư của Nhà Lương, giành lại độc lập cho dân tộc.

I. PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TIỀN LÝ (544 – 602)
Năm 544, Lý Bôn lên ngôi, tự xưng là Nam Việt Đế, lấy hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô tại Long Biên. 
Ngay khi lên ngôi, Vua Lý Nam Đế cho dựng chùa Khai Quốc trên nền cũ của một ngôi chùa cổ ở thôn Yên Trì cạnh Hồ Tây (tương truyền có từ thời Hùng Vương), tại kinh đô Long Biên.
Quốc vương Thiên tử ngọc phả lục kể về Nam Việt Đế như sau : Cha của Vua là Lý Công Đạt, mẹ là Lã Thị Hương, quê ở Phong Châu. Một hôm bà Hương nằm mộng thấy bay lên núi, muốn xuống nhưng không được, bỗng nhìn thấy rồng vàng, bà cưỡi lên thì được đưa xuống núi. Từ đó, bà có thai, ngày mồng 7 tháng Giêng, bà sinh ra Lý Bôn.
Thứ sử Tiêu Tư nghe theo thuộc hạ là Chu Năng, tìm giết hai mẹ con bà. Bà và con chạy về trốn ở chùa làng Táo Tuyến, huyện Chu Diên, [một tư liệu khác, cho biết, chùa đó là chùa Bảo Phúc, nay thuộc thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội]. Tại chùa hai mẹ con bà được sư trụ trì Triệu Quang Hành giúp đỡ và cho cháu là Triệu Quang Phục hầu hạ.
Sau đó, Lý Bôn cùng Triệu Quang Phục chiêu dụ hào kiệt, hợp cùng nghĩa quân của người anh em họ là Lý Phật Tử tiến đánh Long Biên, Tiêu Tư chạy về Trung quốc; lập nên triều đại Tiền Lý. Vua phong cha của Triệu Quang Phục là Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm Tướng Văn, Phạm Tu làm Tướng Võ.
Năm 545, Nhà Lương cử Dương Phiêu làm Thứ sử Giao Châu và sai Trần Bá Tiên đánh chiếm Vạn Xuân. Vua Lý Nam Đế thấy thế yếu, nên rút quân về động Khuất Liêu (Hưng Hóa). Gần một năm sau, Lý Nam Đế đem quân tiến đánh Trần Bá Tiên ở hồ Điển Triệt, nhưng thua trận, phải về động Khuất Liêu, giao cho Triệu Quang Phục tiếp tục chống quân Nhà Lương.  Thấy thế yếu, nên Quang Phục rút quân về Dạ Trạch (Hưng Yên). Trần Bá Tiên đánh mãi nhưng không chiếm được Dạ Trạch. Triệu Quang Phục được tôn gọi là Dạ Trạch Vương. Lý Thiên Bảo (anh của Lý Nam Đế) và Lý Phật Tử rút quân về động Dã Năng (Lào).
Năm 548, vua Lý Nam Đế băng, Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương, đóng đô ở Long Biên; Lý Thiên Bảo ở động Dã Năng cạnh sông Đào giang, xưng là Đào Lang Vương.
 Nhà Lương phải rút Trần Bá Tiên về Tàu vì loạn Hầu Cảnh, giao cho Dương Sằn thống lĩnh binh Lương ở Giao Châu. Nhân đó, Triệu Việt Vương đánh chiếm lại thành Long Biên. Truyện Đầm Nhất Dạ trong sách Lĩnh Nam Trích quái viết thêm về Triệu Quang Phục như sau : Khi đóng quân trong Đầm Dạ Trạch, Triệu Quang Phục trai giới thiết đàn ở trong đầm, đốt hương cầu đảo. Thoát thấy Thần nhân cỡi rồng giáng xuống giữa đầm, bảo Quang Phục rằng: “Ta lên trời  nhưng linh dị còn ở đây, người có lòng thành cầu đảo, Ta đến giúp để bình loạn tặc.” Rồi cởi vuốt rồng cho Quang Phục bảo giắt vào đầu mâu, hễ đánh đâu là được đó. Nói đoạn bay lên trời.
Triệu Quang y như lời dặn, đem binh đột kích, binh Lương đại bại, chém được Dương Sằn ở trận tiền, binh Lương lui chạy. 
Năm 555, Đào Lang Vương mất ở động Dã Năng, Lý Phật Tử lên thay.
Năm 557, Lý Phật Tử ở động Dã Năng đem quân về chống với Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương chia đất  Ô Diên (Hà Đông) và gả con gái cho Lý Phật Tử. 
Nhưng năm 571, Lý Phật Tử đem quân đánh Long Biên, Triệu Việt Vương thua trận, nhảy xuống sông Đại Nha (Nam Định ) tự tận. Lý Phật Tử lên ngôi, lấy hiệu là Nam Đế [Hậu Lý Nam Đế], đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ).
Năm 580, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Trung tâm Phật giáo Liên Lâu, đến hoằng hóa tại chùa Pháp Vân, khai sáng Phái Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi. 
Năm 594, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi viên tịch ở chùa Pháp Vân, truyền tâm ấn cho Pháp Hiền (? – 626). [Xem Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi]
Trong lúc đó, bên Trung quốc, vua Tùy Văn Đế thống nhất đất nước, lập nên triều đại Nhà Tùy (581 – 617). 
Năm 602, Vua Tùy Văn Đế sai Lưu Phương đem quân đánh Giao Châu, Lý Phật Tử xin hàng, bị đưa về Trung quốc.
Nhà Tùy đô hộ Giao Châu, đưa đến việc Trung Hoa đô hộ Việt Nam lần thứ ba (603 – 939). 

II. PHẬT GIÁO VIỆT NAM DƯỚI THỜI TRUNG HOA ĐÔ HỘ LẦN THỨ BA (603 – 939).
Trong thời Trung Hoa đô hộ Giao Châu lần III nầy, thay đổi qua các triều đại : Nhà Tùy, Nhà Đường, và Nhà Nam Hán (Thời Ngũ Đại: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, …).

1.Phật giáo Việt Nam dưới thời Nhà Tùy đô hộ (603 – 617).
Vua Tùy Văn Đế (581-604) là Phật tử mộ đạo, có công trong việc phục hưng Phật giáo Trung quốc. Vua cho trùng tu nhiều chùa bị phá hủy, xây dựng 54 chùa rộng lớn, đều đặt tên là “Đại Hưng Quốc Tự”, và cho xây nhiều chùa mới ở mỗi châu, kể các châu đô hộ như Giao Châu …. Nhưng đặc biệt nhất là Vua ra lệnh cho xây các Tháp thờ Xá lợi Phật ở các châu : Năm 601, cho xây 30 tháp; năm 602, cho xây 51 tháp; năm 603, cho xây 30 tháp. 
Vua Văn Đế rất kính trọng Pháp sư Đàm Thiên (542-607), một hôm [năm 603?], Vua nói với Pháp sư : “Trẫm nghĩ đến lời dạy từ bi của đức Điều Ngự mà không biết làm sao báo đáp công đức. Trẫm trộm làm bậc nhân vương, rộng giúp Tam bảo, ban xá lợi  khắp nơi. Trong nước dựng49 bảo tháp để làm bến cầu giác ngộ cho đời; còn ở ngoài nước, cũngcho các xứ kiến lập 150 chùa tháp mong tạo phước thấm nhuần cả  đại thiên thế giới.Nhưng xứ Giao Châu kia, tuy đã nội thuộc, nhưng còn ky my, nên phải chọn những sa môn danh đức đến các địa phương của châu ấy để dạy dỗ hầu khiến cho tất cả đều giác ngộ”.
Pháp sư đáp: “Xứ Giao Châu có đường thông Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu (Liên Lâu) đã có tới 20 chùa, độ hơn 500 vị tăng và dịch được 15 quyển kinh rồi. Như vậy ở đó [Giao Châu] đã có trước nước ta rồi vậy. Hồi đó, đã có những vị tăng như Khâu-đà-la, Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội, Chi-cương-lương, Mâu Bác… tại đó. Nay lại có Thượng sĩ Pháp Hiền, đắc pháp với Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền tông phái của Tổ thứ ba Tăng Xán.Pháp Hiền là vị Bồ tát sống, hiện trụ trì ở chùa Chúng Thiện, giáo hóa không dưới ba trăm môn đồ, không thua kém gì ở Trung quốc. Bệ hạ là bậc cha hiền của khắp thiên hạ, muốn bố thí bình đẳng, thì chỉ nên khiến sứ đưa xá lợi đến, vì nơi  ấy  đã có người rồi, không cần phải cho người sang nữa.[TUTANL, Bản dịch Lê Mạnh Thát, t204].
Năm 603, Vua Tùy Văn Đế gởi cho Thứ sử Giao Châu Lưu Phương 5 hòm Xá lợi Phật: Hòm chứa xá lợi ở ngoài cùng bằng đá, bên trong là hòm bằng bạc, trong hòm bạc lại có hòm bằng vàng, trong hòm vàng có bình lưu ly, trong bình lưu ly chứa xá lợi Phật. Thứ sử Lưu Phương giao cho Thiền sư Pháp Hiền chọn nơi lập tháp thờ xá lợi. Thiền sư Pháp Hiền cho xây dựng 5 tháp thờ Xá lợi Phật : 1/ Giao Châu: Trung tâm Phật giáo Liên Lâu (chùa Pháp Vân), 2/ Phong Châu (Phú Thọ), 3/ Trường Châu (Nam Định), 4/ Ái Châu và 5/ Hoan Châu (Thanh Nghệ Tĩnh). [Năm 1034, sư Hưu ở chùa Pháp Vân tại châu Cổ Pháp (Bắc Ninh) thấy trong chùa có phát ra mấy luồng ánh sáng (hào quang), theo chỗ ánh sáng đào sâu xuống tìm thấy hòm đá chứa xá lợi như trên.]            
Sau khi Tùy Văn Đế băng, Tùy Dạng Đế cũng hâm mộ đạo Phật, thọ giới Bồ tát với Đại sư Trí Khải (538-597), và tận lực hưng long Phật giáo. 

2. Phật giáo Việt Nam dưới thời Nhà Đường (618 – 907) và Nam Hán (907 – 939) đô hộ.
Năm 618, Đường Công Lý Uyên đánh bại Nhà Tùy, chiếm kinh đô Trường An, lập nên triều đại Nhà Đường (618 – 907). Hầu hết các vua Nhà Đường là những vị vua sùng mộ Đạo Phật (chỉ trừ Võ Tôn phá Phật từ 842 đến 846), Phật giáo lại có nhiều Cao tăng nổi tiếng (Hoằng Nhẫn, Huệ Năng, Thần Tú, Pháp Dung, Đạo Xước, Thiện Đạo …), một số Cao tăng Trung Hoa du hành sang Ấn Độ cầu học Phật pháp, thỉnh kinh … như : Huyền Trang (600-664) qua Ấn (629-645) viết Đại Đường Tây Vực ký, Nghĩa Tịnh (635-713) qua Ấn (671- 695) viết Đại Đường cầu pháp Cao tăng truyện và Nam Hải Ký quy truyện kể nhiều Cao tăng du học Ấn Độ (trong đó có một số Cao tăng Việt Nam) …. Vì thế nên thời Nhà Đường, Phật giáo rất hưng thịnh và phát triển. Đồng thời các vua Nhà Đường có chính sách khoan hòa với các thuộc quốc, tôn trọng các Cao tăng các nước khác, thỉnh thoảng mời các Cao tăng nước ngoài đến thuyết pháp tại kinh đô Trường An, trong đó có một số Cao tăng Việt Nam.
 Vua Nhà Đường cho đổi Bộ Giao Châu thành An Nam Đô hộ Phủ, sau đổi thành Tĩnh Hải.  Tiết độ sứ Cao Biền cai trị Tĩnh Hải (864-874) đã trấn ếm nước Việt nhiều nơi ….
Phật giáo Việt Nam thời Nhà Đường cũng hưng thịnh và phát triển với nhiều Thiền sư nổi tiếng: Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi có các Thiền sư Pháp Hiền, Pháp Đăng, Huệ Nghiêm, Thanh Biện, Nam Dương, Định Không, Thông Thiện, Phù Trì, La Quý, Pháp Thuận, Vô Ngại, Ma Ha ….
Một số Cao tăng Việt Nam sang Ấn Độ cầu pháp : Vận Kỳ, Khuy Xung, Giải Thoát Thiên, Huệ Diệm, Đại Thừa Đăng, Trí Hành …
Một số Cao tăng Việt Nam được thỉnh sang Triều đình Nhà Đường thuyết pháp : Pháp sư Duy Giám, Cung phụng Định Pháp sư (Thiền sư Định Không); khi về nước được các thi sĩ  Trung Hoa ca ngợi trong các bài thơ đưa tiễn : 
– Nhà thơ Dương Cự Nguyên có bài thơ “Cung phụng Định pháp sư qui An Nam”.
– Nhà thơ Giả Đảo có bài thơ “Tống Duy Giám pháp sư qui An Nam”.
Nhà thơ nổi tiếng thời Nhà Đường là Thẩm Thuyên Kỳ bị đày qua nước ta vào những năm 701 – 704, có dịp tham học với Thiền sư Vô Ngại, trụ trì chùa Sơn Tịnh, quận Nhật Nam. Thẩm Thuyên Kỳ hết lòng tôn phục Thiền sư Vô Ngại, sáng tác bài thơ  tôn kính Ngài như “Hóa thân của Phật” trong bài thơ “Yết Cửu Chân Sơn Tịnh Tự, Vô Ngại Thượng nhân”. Thẩm Thuyên Kỳ đã được ngộ đạo tại châu Hoan, theo bài thơ “Thiệu Long Tự” (Chùa Thiệu Long) của Ông. 
Nhà thơ Trương Tịch (k750 – k820) đời Đường có bài thơ “Sơn trung tặng Nhật Nam Tăng” ca ngợi một Cao tăng ẩn tu trên núi ở quận Nhật Nam. 
 Các vua và Hoàng gia Nhà Nam Hán (907 – 946) hầu hết là Phật tử thuần thành, hết lòng hộ trì Phật giáo, nên Phật giáo Trung quốc được phục hưng và phát triển, nhất là về Thiền Tông. Các vua Nam Hán thời đầu thọ giới Bồ tát và tham học thiền với Thiền sư Tuyết Phong-Nghĩa Tồn (822-908) ở nước Mân (Phúc Kiến). Thiền sư Tuyết Phong-Nghĩa Tồn có đệ tử là Vân Môn-Văn Yển (864-949) là vị Tổ khai sơn Phái thiền Vân Môn. Thiền sư Tuyết Phong còn có đệ tử nổi danh khác là Huyền Sa-Sư Bị (835-908), pháp tôn là La Hán-Quế Sâm (867-928). La Hán-Quế Sâm có đệ tử là Pháp Nhãn-Văn Ích hay Tịnh Huệ (885-958) khai sơn Phái thiền Pháp Nhãn. Thiền sư Pháp Nhãn-Văn Ích có đệ tử là Quốc sư Đức Thiều (891-972) …. Vì thế, Thiền Tông Trung Hoa thời Nam Hán đã phát xuất hai Phái thiền Vân Môn và Pháp Nhãn, là hai phái thiền nổi tiếng trong 5 Phái thiền của Trung quốc. Phái thiền Vân Môn cũng ảnh hưởng đến Việt Nam vào thời Nhà Lý, khi vua Lý đánh Chiêm Thành tình cờ bắt được  Thiền sư Thảo Đường thuộc phái thiền Vân Môn. Thiền sư Thảo Đường khai sáng Phái thiền Thảo Đường ở Việt Nam. 
 Năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông sang Việt Nam, trác tích ở chùa Kiến Sơ, thành lập Phái thiền Vô Ngôn Thông. 
Năm 826, Thiền sư Vô Ngôn Thông viên tịch, kế thế phái thiền Vô Ngôn Thông vào thời Nhà Đường và Nhà Nam Hán đô hộ có các Thiền sư : -Cảm Thành (? – 860), -Thiện Hội (? – 900), -Vân Phong (? – 956).

CHƯƠNG IV:

PHÁI THIỀN TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI

 

I. THIỀN SƯ TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI ( ? – 594).

  Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) hoằng hóa ở chùa Pháp Vân, hương Cổ Châu, Long Biên (nay thuộc xã Khương Tự, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Người nước Nam Thiên Trúc (Ấn Độ), dòng Bà-la-môn. Lúc còn nhỏ có chí khác thường, đi nhiều nơi trong nước Thiên Trúc mong tìm tâm ấn Phật, nhưng nhân duyên chưa gặp Thầy truyền tâm ấn, nên Sư chống tích trượng sang phương Đông nam (Trung quốc).

Năm Giáp Ngọ (574), niên hiệu Đại Kiến thứ sáu, đời Trần Tuyên Đế [sách xưa in lầm là năm Nhâm Ngọ (562)], Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến kinh đô Trường An của Trung quốc, gặp lúc vua Chu Võ Đế phá diệt Phật giáo, nên đi về đất Nghiệp (Hồ Nam). Lúc đó, Tổ thứ ba của Thiền Tông Trung Hoa là Tăng Xán ( ? – 606) đang lánh nạn ẩn tu trên núi Tư Không. Gặp Tổ, thấy phong thái phi phàm, trong lòng phát niềm kính mộ, Sư  đến trước mặt chắp tay xá ba lần, nhưng Tổ vẫn ngồi yên không đáp. Sư suy nghĩ giây lát, tâm bỗng bừng mở như có điều sở đắc, quì xuống lạy ba lạy. Tổ gật đầu ba lần. Sư lùi lại ba bước, thưa rằng: “Đệ tử từ trước đến nay chưa gặp nhân duyên, xin Hòa thượng mở tâm đại từ bi, cúi xin cho con được theo hầu hạ hai bên”.

Tổ dạy: “Ngươi nên mau qua phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu”.

Sau khi được tâm ấn nơi Tổ, Sư từ biệt, đi xuống phương Nam, đến Quảng Châu dừng lại hoằng hóa ở chùa Chế Chỉ. Trong khoảng 6 năm, Sư dịch được hai quyển kinh : Tượng Đầu và Báo Nghiệp Sai Biệt.

Tháng Ba năm Canh Tý (580), niên hiệu Đại Tường thứ Hai, đời Chu, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến Giao Châu, trác tích ở chùa Pháp Vân, sau đó dịch thêm kinh Tổng Trì.

Khi Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến chùa Pháp Vân, trụ trì là Thiền sư Quán Duyên có đệ tử là Pháp Hiền.

Cuộc “tiếp xúc” đầu tiên giữa Thiền sư Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi và sư Pháp Hiền.

Tỳ-ni-đa-lưu-chi hỏi : Ngươi Họ gì ? (Nhữ hà Tánh ?)

Pháp Hiền không trả lời câu hỏi mà hỏi lại : Hòa thượng Họ gì ?

Tỳ-ni-đa-lưu-chi lại hỏi : Ngươi không có Họ sao? (Nhữ vô Tánh đa?)     

   Pháp Hiền đáp : Không phải không có Họ, nhưng Hòa thượng làm sao biết được ?

Tỳ-ni-đa-lưu-chi quát : Biết để làm gì ?

Pháp Hiền chợt “ngộ”, liền sụp xuống lạy, nhận được yếu chỉ !

Từ đó về sau Pháp Hiền luôn theo hầu Tổ.

Tổ Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi truyền tâm ấn cho Pháp Hiền.

Một hôm, Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi gọi Pháp Hiền vào phương trượng và bảo :

“Tâm ấn chư Phật, Tất không lừa dối, Tròn đồng thái hư, Không thiếu không dư, Không đi không đến, Không được không mất, Chẳng một chẳng khác, Chẳng thường chẳng đoạn, Vốn không chỗ sinh, Cũng không chỗ diệt, Cũng chẳng lìa xa, Chẳng không lìa xa, Vì đối vọng duyên, Nên giả đặt tên.Bởi thế chư Phật ba đời, Cũng như thế mà được. Tổ sư nhiều đời, Cũng  như thế mà được. Ta cũng như thế mà được, Con cũng như thế mà được. Cho đến hữu tình, vô tình, Cũng như thế mà được.

Tổ ta Xán Công, khi truyền Tâm ấn cho Ta, bảo Ta về Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu, Từng trải nhiều nơi, mới đến được đây. Nay gặp được con, quả hợp huyền ký, Con khéo giữ gìn, Giở đi Ta đến !”

Nói xong Tổ chấp tay mà mất [năm Giáp Dần (594), niên hiệu Khai Hoàng thứ 14, đời Nhà Tùy]. Pháp Hiền làm lễ trà tỳ, thu xá lợi năm sắc, xây tháp thờ.

Sau nầy, vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) có làm bài kệ truy tán  Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi :

Mở lối sang nước Nam                                    [ Sáng tự lai Nam quốc

Nghe Ông giỏi tập Thiền                                   Văn quân cửu tập Thiền

Mở niềm tin đức Phật                                        Ưng khai chư Phật tín

Xa hợp một nguồn tâm                                      Viễn hợp nhất tâm nguyên

Trăng Lăng- già vằng vặc                                 Hạo hạo Lăng-già nguyệt

Sen Bát- nhã ngát hương                                   Phân phân Bát-nhã liên

Bao giờ được gặp mặt                                       Hà thì lâm diện kiến

Cùng nhau nói đạo huyền.                                Tương dữ thoại trùng huyền.]

TƯ TƯỞNG THIỀN SƯ TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI.

 Qua tiểu sử trên, chúng ta thấy : Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đã vân du tham học thiền ở Ấn Độ nhiều năm, sau đó mới qua Trung quốc gặp Tổ sư Tăng Xán. Sau khi được Tổ sư Tăng Xán truyền tâm ấn, Sư lại về chùa Chế Chỉ hoằng hóa và dịch kinh Tượng đầu Tinh xá (Tinh xá Đầu Voi). Đến Việt Nam, gặp Pháp Hiền và Quán Duyên, lại dịch thêm kinh Tổng trì . Như thế là Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi chịu ảnh hưởng của Thiền Tông Ấn Độ, Trung quốc và Việt Nam.

Ngoài việc chịu ảnh hưởng của Tổ sư Tăng Xán, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi thấm nhuần quan điểm của hai Bộ kinh mà Sư đã dịch : Kinh Tượng đầu Tinh xá (ở Quảng Châu) ; và Kinh Tổng trì (ở Giao Châu) ….

1. Tư tưởng Tổ sư Tăng Xán được thể hiện trong bài Tín Tâm Minh.

Ngay trong Bài Phó chúc của Thiền sư  Tỳ-ni-đa-lưu-chi cho Pháp Hiền như trên, chúng ta thấy rõ ảnh hưởng sâu xa của Tổ Tăng Xán. Bài Phó chúc của Tỳ-ni-đa-lưu-chi giống như quan điểm của Tổ Tăng Xán trong bài Tín Tâm Minh với những ý chính sau :

 

Đạo lớn không khó                                     Chí đạo vô nan

Cốt đừng chọn lựa                                      Duy hiềm giản trạch

Chỉ không thương ghét                               Đản mục tắng ái

Tự nhiên sáng tỏ                                         Đỗng nhiên minh bạch

 

Sai lạc đường tơ                                           Hào li hữu sai

Đất trời phân cách                                      Thiên địa huyền cách

Chớ nghĩ thuận nghịch                               Dục đắc hiện tiền

Hiện liền trước mắt                                     Mạc tồn thuận nghịch.

 

Tranh chấp thuận nghịch                          Vi thuận tương tranh

Đó là tâm bệnh                                            Thị vi tâm bệnh

Không hiểu huyền chỉ                                Bất thức huyền chỉ

Hoài công niệm tịnh                                   Đồ lao niệm tịnh

 

Tròn như  Thái hư                                       Viên đồng Thái hư

Không thiếu không dư                                Vô khiếm vô dư

Mảng lo giữ bỏ                                            Lương do thủ xả

Chẳng được như như                                  Sở dĩ bất như

 

Chớ đuổi duyên trần                                  Mạc trục hữu duyên

Không trụ không nhẫn                               Vật trụ không nhẫn

Một mực bình tâm                                        Nhất chủng bình hoài

Tự nhiên dứt tận                                          Dẫn nhiên tự tận

 

Ngăn động cầu tịnh                                    Chỉ động qui chỉ

Hết ngăn động thêm                                   Chỉ cánh di động

Càng vướng hai bên                                   Duy trệ lưỡng biên

Nên biết một mối                                         Ninh tri nhất chủng

 

……………………………..                                     ……………………………

 

Không trụ Nhị kiến                                     Nhị kiến bất trụ

Chớ nên truy tầm                                         Thận vật truy tầm

Vướng mắc phải trái                                   Tài hữu thị phi

Nghiền đốt mất tâm                                    Phấn nhiên thất tâm

 

Hai do Một (mà)ø có                                     Nhị do Nhất hữu

Một cũng buông bỏ                                     Nhất diệc mạc thủ

Một tâm chẳng sanh                                   Nhất tâm bất sanh

Muôn pháp không tội                                 Vạn pháp vô cữu

 

……………………………..                                     …………………………

 

Có tức là Không                                          Hữu tức thị Vô

Không tức là Có                                          Vô tức thị Hữu

Nếu không như thế                                      Nhược bất như thị   

Quyết không thủ giữ                                   Tất bất tu thủ

 

Một là Tất cả                                               Nhất tức Nhất thiết

Tất cả là Một                                               Nhất thiết tức Nhất

Nếu không Như thế                                     Đản năng Như thị

Lo gì chẳng xong                                         Hà lự bất tất

 

Tín tâm “không hai”                                   Tín tâm “Bất nhị”

“Không hai”tín tâm                                     Bất nhị Tín tâm

Ngôn ngữ Đạo dứt                                      Ngôn ngữ Đạo đoạn

Không xưa không nay.                                Phi cổ lai kim.

Qua bài Tín Tâm Minh, và bài Phó chúc trên, chúng ta thấy rằng Thiền sư  Tỳ-ni-đa-lưu-chi  chịu ảnh hưởng của hệ thống kinh Bát nhã với pháp Bất Nhị đến kinh Hoa Nghiêm với tư tưởng “Tất cả là Một, Một là Tất cả”, đến “lý sự viên dung”, và cuối cùng đạt đến “Vô tâm” của Sơ Tổ Bồ-đề Đạt-ma, hay “Vô niệm” của Lục Tổ Huệ Năng.

2. Kinh Tượng đầu Tinh xá (Kinh Tinh xá Đầu voi).

 Kinh Tượng đầu Tinh xá được Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi dịch vào thời Nhà Tùy (581-617) là kinh thuộc Thiền học mang tư tưởng hệ thống Bát nhã. Kinh nầy nói về “Bồ đề”,  tức giảng về “Giác ngộ”. Kinh viết :

… Bồ đề không tiếng, không sắc, không thanh, không thấy, không vào, không biết, không đi, không đến. Những pháp như vậy, cũng không ràng buộc, có thể vượt qua các pháp, vượt khỏi  ba cõi, không thấy, không nghe, không ngã sở, không ta, không của ta, không tác giả, không chỗ ở, không hang nhà, không lấy, không giữ, không ra, không vào, không nguyện, không trụ, không tướng không mạo, không kia, không dây, không hiện ra như huyễn hóa. Nó do mười hai nhân duyên mà sinh, không xứ sở, không thể thấy, rời các tướng giống như không, chỉ hiện ra sự vắng lặng, không tiếng không vang, không chữ không câu, cũng không lời nói. Biết như thế thì gọi là “bồ đề”. …..

Đức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi : “Hễ là bồ đề thì vượt khỏi ba cõi, vượt khỏi ngôn thuyết, rời các văn tự, không có trụ xứ. Lại  nữa, này Văn Thù Sư Lợi, bồ tát ma ha tát trụ chỗ không trụ là trụ bồ đề, trụ không chấp trước là trụ bồ đề, trụ vào pháp không là trụ bồ đề, trụ vào pháp tín là trụ bồ đề, trụ vào tất cả pháp không có thể tướng là trụ bồ đề, trụ vô lượng tín là trụ bồ đề, trụ không tăng giảm là trụ bồ đề, trụ không niệm pháp là trụ bồ đề, trụ như bóng gương, như tiếng dội hang trống, như trăng trong nước, như lửa lúc nóng. Này Văn Thù Sư Lợi trụ các pháp như vậy là trụ bồ đề”.

Bấy giờ thiên tử Tịnh Quang Diệm bạch Văn Thù Sư Lợi rằng : “Tu hành thế nào, dùng những nghiệp gì thì là hạnh Bồ tát ?

Văn Thù Sư Lợi nói : “Này Thiên tử, đối với các chúng sinh, dấy lên lòng Đại từ đó là Hạnh Bồ tát”. ….

Thiên tử lại bạch Văn Thù Sư Lợi: “Bồ tát ma ha tát tu hành thế nào dấy lòng bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh?”

Văn Thù Sư Lợi nói: “Không kia, không đây, không có các dị kiến, đó là bình đẳng. Các bồ tát nên học như vậy …. …………………………………..

…… bồ tát ma ha tát lại có hai thứ bồ đề tâm tín hạnh kiên cố. Những gì là hai? Một là hạnh chánh niệm bồ đề, hai là hạnh tu hành thiền định dứt các phiền não. …………”

Kinh còn chỉ về mười phép quán : 1/ Quán bên trong của thân là không, 2/ Quán bên ngoài của thân cũng là không, 3/ Quán trong ngoài các pháp đều là không, 4/ Đối với tất cả trí không chấp trước, 5/ Không chấp trước vào phương pháp tu, 6/ Không chấp trước vào các địa vị tu chứng của các  bậc Thánh hiền, 7/ Không chấp trước vào sự thanh tịnh đạt được do sự tu hành lâu ngày, 8/ Trụ vào bát nhã ba la mật mà không dấy lên chấp trước , 9/ Giảng luận chánh pháp giáo hóa chúng sanh mà không dấy lên chấp trước, 10/ Quán các chúng sinh dấy lòng từ bi thương xót mà khôn dấy lên chấp trước. ………

Kinh chỉ về mười hạnh trí : nhân trí, quả trí, nghĩa trí, phương tiện trí, trí bát nhã, trí thọ trì, trí ba la mật, trí đại bi, trí thương xót giáo hóa chúng sinh. ……………

3. Kinh Tổng trì.

Kinh Tổng trì được Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán trong thời gian hoằng hóa ở chùa Pháp Vân tại Giao Châu (Việt Nam) vào khoảng năm 580 – 594. Kinh viết :

…… Bấy giờ, đức Phật bảo Di Lạc bồ tát ma ha tát rằng : “Này A-dật-đa, Như Lai không còn lâu nữa phải nhập niết bàn. Đối với các pháp có chỗ nào nghi ngờ, Ta nay hiện còn đây, có muốn hỏi gì cứ hỏi. Sau khi Như Lai diệt độ chớ hối tiếc.” ………

Này A-dật-đa, đạo Bồ đề của Ta đối với tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, an trụ vào tâm đại bi, khéo dùng phương tiện, chánh niệm không quên . …………………..

Đức Thế Tôn nói : “Như vậy, ngươi cũng từng ở chỗ Phật Nhiên Đăng thời quá khứ, đã xuất gia tu đạo trong đạo pháp của Ngài ….

Này A-dật-đa, bồ tát tu hành sáu ba la mật đầy đủ như vậy mới hay thành tựu vô thượng bồ đề. ….

Phật bảo A-dật-đa : “Ta từ xưa trải qua vô số thời gian tu hành đầy đủ sáu ba la mật. Nếu không tu hành đầy đủ sáu ba la mật thì rốt cuộc không thành được vô thượng bồ đề.……………………………….

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi : “Ta trong bảy năm về trước, ngày đêm sáu thời,  sám hối các trọng tội do nghiệp thân, miệng, và ý tạo ra. Từ đó về sau mới được thanh tịnh, trải mười kiếp rồi chứng được pháp nhẫn. ……

Phật bảo Văn Thù Sư Lợi : “có bốn pháp bình đẳng mà bồ tát nên học. Một là bồ tát bình đẳng đối  với hết thảy chúng sanh. Hai là bình đẳng đối với hết thảy các pháp. Ba là bình đẳng đối với giác ngộ. Bốn là bình đẳng đối với thuyết pháp….”

Như vậy, Kinh Tổng trì  giảng về Thiền :

 Ngày đêm sáu thời,  sám hối các trọng tội do nghiệp thân, miệng, và ý tạo ra;

– Bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, với các pháp, khi thuyết pháp, và giác ngộ. 

– An trụ vào tâm đại bi,

– Chánh niệm không quên

– Khéo dùng phương tiện;

– Tu hành đầy đủ sáu ba la mật (Lục độ).

LỤC ĐỘ TẬP KINH giảng về sáu ba la mật, hay sáu phương pháp đạt đến giác ngộ:

1/ Bố thí ba la mật.

2/ Trì giới ba la mật.

3/ Nhẫn nhục ba la mật.

4/ Tinh tấn ba la mật.

5/ Thiền định ba la mật.

6/ Trí tuệ ba la mật.

Thiền định ba la mật có bốn bậc :

1/ Hạnh thiền thứ nhất : phải trừ bỏ tham ái, sân hận, tà dâm, mắt ham sắc, mũi thích mùi hương, tai nghe tiếng, miệng nếm vị, thân ưa tốt. Tu ở nơi thanh vắng hay núi non, xa tình dục, thân trong sạch, tâm thanh tịnh an lạc …

2/ Hạnh Thiền thứ hai : Tâm an nhiên, không còn phải lấy thiện trừ ác, không còn phân biệt phải trái; ác không do tai tai, mắt, mũi, miệng … mà vào ; thiện từ tâm sinh ….

3/ Hạnh Thiền thứ ba : Thân ý trong sạch, lìa xa thiện ác, phải trái, chánh tà; đồng thời cũng không còn thấy tâm mình thanh tịnh, tâm an nhiên như nhiên …

4/ Hạnh Thiền thứ tư :  Tâm sáng như lưu ly, tự tại vô ngại, không gì làm nhiễm ô được; đắc nhứt thiết trí, đạt hữu dư niết bàn, … ;  có thể biến hóa, phân thân tán thể …

II. TRUYỀN THỪA CỦA PHÁI THIỀN TỲ-NI-ĐA-LƯU-CHI

Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền thừa được 19 thế hệ :

1.THẾ HỆ THỨ I : THIỀN SƯ PHÁP HIỀN ( ? – 626).

Thiền sư Pháp Hiền quê ở Chu Diên (tỉnh Sơn Tây), thân hình to lớn, cao đến bảy thước ba tấc (khoảng 2,30 m), trụ trì chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc (núi Phật Tích), huyện Tiên Du (tỉnh Bắc Ninh).

Sư xuất gia thọ giới cụ túc với Đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân (chùa Dâu) tại Trung tâm Phật giáo Liên Lâu. Hằng ngày cùng với Tăng chúng nghe giảng về yếu chỉ của Thiền.

Năm 580, Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung quốc đến chùa Pháp Vân. Tổ sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi gặp sư Pháp Hiền, nhìn thẳng vào mặt hỏi : Ngươi họ gì ?

Sư không trả lời câu hỏi mà hỏi ngược lại : Hòa thượng Họ gì ?

Tổ lại hỏi : Ngươi không có Họ sao ?

Sư đáp : Họ không phải là không có, nhưng Hòa thượng làm sao biết được ?

Tổ quát : Biết để làm gì ?

Sư Pháp Hiền chợt ngộ được yếu chỉ, liền sụp quì xuống lạy, bèn được Thiền chỉ.

Sau khi Tổ sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi viên tịch, Sư lên núi Phật Tích tu tập thiền định; thân như cây khô; vật “ngã” đều quên; chim bay đến vây quanh, dã thú quấn quít đùa giỡn quanh sư …

Người đương thời thấy thế càng thêm kính mộ, đệ tử tìm đến tham học ngày càng đông. Vì thế, Sư mới lập chùa Chúng Thiện trên núi Phật Tích để truyền dạy đệ tử. Số tăng chúng đông đến hơn 300 người.

Từ đó, phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi ở phương Nam bắt đầu hưng thịnh.

Thứ sử Lưu Phương của Nhà Tùy cai trị Giao Châu cũng nghe danh Thiền sư Pháp Hiền và dâng sớ về triều đình Nhà Tùy : “… Cõi [Giao Châu] nầy, từ lâu sùng mộ Phật giáo, lại quí trọng Cao tăng đức độ…”.

Khoảng năm 603, vua Tùy sai sứ ban cho 5 hòm xá lợi của đức Phật và Điệp văn tặng cho  Sư, sắc chỉ xây tháp cúng dường.

Thiền sư Pháp Hiền chọn 5 linh địa để xây tháp thờ xá lợi Phật : Giao Châu (Trung tâm Phật giáo Liên Lâu), Phong Châu (Phú Thọ), Trường Châu (Ninh Bình), Ái Châu (Thanh Hóa), Hoan Châu (Nghệ An-Hà Tĩnh)Thiền sư Pháp Hiền viên tịch vào năm Bính Tuất, niên hiệu Vũ Đức thứ 9, đời Nhà Đường (năm 626).

Thiền sư Pháp Hiền có nhiều đệ tử, nhưng vì không còn tài liệu nên không biết có bao nhiêu đệ tử đắc pháp ?

2. THẾ HỆ THỨ II Trong sách Thiển uyển Tập Anh Ngữ lục ghi Thế hệ thứ II chỉ có một vị, nhưng không ghi pháp danh là gì ?

3. THẾ HỆ THỨ III : Trong sách Thiển uyển Tập Anh Ngữ lục ghi Thế hệ thứ III chỉ có một vị, nhưng không ghi pháp danh. Nhưng đọc tiểu sử Thiền sư Thanh Biện, chúng ta biết được vị Tổ thứ III của Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi là Thiền sư Huệ Nghiêm trụ trì chùa Sùng Nghiệp.

4. THẾ HỆ THỨ IV Thiền sư Thanh Biện ( ? – 686). 

Thiền sư Thanh Biện họ Đỗ, quê ở Cổ Giao (nay là Văn Điển, Hà Nội), năm 12 tuổi theo học với  Hòa thượng Pháp Đăng ở chùa Phổ Quang. Khi Hòa thượng Pháp Đăng sắp tịch, Thanh Biện hỏi: Sau khi Hòa thượngđi rồi, con phải nương nhờ vào ai ? Hòa thượng đáp : “Chỉ Sùng Nghiệp mà thôi !” Sư mờ mịt không hiểu gì cả.

Sau khi Hòa thượng tịch, sư Thanh Biện chuyên trì kinh Kim Cang, không có thầy chỉ dạy.

Một hôm, có một thiền khách đến chùa Phổ Quang, thấy Sư tụng kinh Kim Cang mới hỏi : Kinh nầy có nói Kinh nầy là Mẹ ba đời  của chư Phật. Vậy thì  nghĩa Mẹ của Phật là thế nào ?

Sư đáp : Lâu nay tôi trì tụng nhưng chưa biết được ý kinh.

Thiền khách hỏi : Thầy trì kinh đã bao lâu ?

Sư đáp : Đã tám năm.

Thiền khách nói : Thầy đã trì kinh suốt 8 năm mà chưa hiểu được ý kinh, thì dù có trì tụng đến cả trăm năm cũng không ích gì !!!

Sư bèn đãnh lễ và xin Thiền khách chỉ giáo. Khách bảo Sư  phải tìm đến Thiền sư Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp mà xin thỉnh giáo.

Sư chợt tỉnh ngộ nói : Nay tôi mới biết Hòa thượng Pháp Đăng nói đúng !

Sư bèn theo lời của Thiền khách, lên đường đến yết kiến Hòa thượng Huệ Nghiêm ở chùa Sùng Nghiệp. Khi Thanh Biện đến, Hòa thượng Huệ Nghiêm hỏi : Ngươi đến có việc gì ?

Sư đáp : Trong tâm có điều chưa hiểu.

Hòa thượng hỏi : Chưa hiểu việc gì ?

Sư thuật lại đối thoại với vị khách hôm trước.

Hòa thượng than rằng : Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ trong kinh có nói : “Ba đời của chư Phật  cùng giáo pháp A nậu đa la tam miệu tam bồ đề đều từ Kinh ấy mà ra. Há đó chẳng phải là Mẹ của Phật hay sao?

Sư thưa: Quả thật đệ tử còn mê muội.

Hòa thượng lại hỏi: Thế kinh ấy là ai nói ?

Sư đáp: Đó chẳng phải là Như Lai nói sao ?

Hòa thượng nói: Trong kinh nói : “Nếu nói Như Lai có thuyết pháp tức là hủy báng Phật”. Câu ấy người ta không giải được. Ngươi thử nghĩ xem, nếu nói kinh đó không phải là lời Phật nói thì là phỉ báng kinh; nếu nói kinh ấy lời thuyết pháp của Phật  thì lại là phỉ báng Phật. Ngươi phải làm sao? Nói mau! Nói mau!”

Sư sắp mở miệng đáp Hòa thượng Huệ Nghiêm cầm phất trần đánh vào miệng. Sư đột nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.

Sau sư Thanh Biện đến trụ trì chùa Kiến Dương ở hương Hoa Lâm, phủ Thiên Đức (huyện Đông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh) thuyết giảng giáo hóa đồ chúng.

Thiền sư Thanh Biện viên tịch vào năm Bính Tuất, niên hiệu Thùy Củng, đời Nhà Đường (năm 686).    

5. THẾ HỆ THỨ V : Một Thiền sư  (khuyết lục). 

6.THẾ HỆ THỨ VI : Một Thiền sư  (khuyết lục). 

7.THẾ HỆ THỨ VII Trong sách Thiển uyển Tập Anh Ngữ lục ghi Thế hệ thứ VII chỉ có một vị, nhưng không ghi pháp danh (khuyết lục). Nhưng đọc tiểu sử Thiền sư Định Không trong sách nầy, chúng ta biết được Tổ thứ VII của Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi là Thiền sư Nam Dương hoằng hóa ở chùa Long Tuyền.

8.THẾ HỆ THỨ VIII : Ba Thiền sư , sách xưa ghi chép thiếu hai vị, chỉ còn Thiền sư Định Không.

THIỀN SƯ ĐỊNH KHÔNG (730 – 808).

Thiền sư Định Không họ Nguyễn (họ Lý), quê ở hương Cổ Pháp (Trung tâm Phật giáo Liên Lâu), thuộc dòng vọng tộc. Ông là người am hiểu vận số thế cuộc, giữ đúng phép tắc, người trong làng đều tôn gọi Ông là Trưởng Lão.

Khi đã nhiều tuổi, nhân đi dự hội pháp hội ở chùa Long Tuyền, nghe Hòa thượng Nam Dương giảng kinh, Ông hiểu được yếu chỉ, do đó phát tâm qui y theo Phật.

Khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đời Nhà Đường (785 – 805), Thiền sư Định Không xây dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. [Hương Cổ Pháp, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh]. Khi xây chùa, thợ đào móng gặp được một lư hương và mười cái khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa, một cái khánh chìm xuống nước, đến khi chạm đất mới nằm im. Sư giải thích việc mười cái khánh chìm xuống nước đến tận đáy (đất) theo dịch số : Chữ “Thập” và chữ “khẩu” hợp thành chữ “Cổ”; chữ “thủy” và chữ “khứ” hợp thành chữ “Pháp”; chữ “Thổ” chỉ chỗ ta ở, tức đất đai làng nầy. Nhân đó Sư đổi tên làng  thành Cổ Pháp. Sư lại làm bài “sấm ký” như sau :

Đất dâng pháp khí                                      Địa trình pháp khí

Một món đồng ròng                                    Nhất phẩm trinh đồng

Gặp thời Phật pháp hưng thịnh                Tri Phật pháp chi long hưng

Đặt tên làng là Cổ Pháp                            Lập hương danh chi Cổ Pháp

Sư lại có bài sấm khác:

Hiện ra pháp khí                                          Pháp khí xuất hiện

Mười chiếc khánh đồng                             Thập khẩu đồng chung

Họ Lý làm vua                                              Lý thị hưng vương

Tam phẩm thành công                                Tam phẩm thành công.

Sư lại nói :

Mười cái xuống nước đất                           Thập khẩu thủy thổ khứ

Cổ Pháp là tên làng                                   Cổ Pháp dnh hương hiệu

Gà ở sau tháng chuột                                 Kê cư loan [thử] nguyệt hậu(*)

Chính lúc Tam bảo hưng                            Chính thị hưng Tam bảo.

(*) chữ “loan” có thể là chữ “thử”, câu nầy có nghĩa là “ Tháng chuột năm gà” tức là tháng Tý (tháng 11) năm Gà (năm Dậu, hay đúng hơn là năm Kỷ Dậu), báo trước là tháng 11 năm [Kỷ] Dậu thì Phật giáo hưng thịnh; ứng nghiệm với việc vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) lên ngôi vào tháng 11 năm Kỷ Dậu (1009); hợp với bài sấm ký của Thiền sư La Quý sau đó.

Khi sắp tịch, Thiền sư Định Không gọi đệ tử Thông Thiện dạy rằng : Ta muốn mở mang làng xóm, nhưng e nửa chừng gặp tai họa, vì có “kẻ lạ” đến phá hoại long mạch của đất nước ta. Sau khi Ta mất, con khéo giữ pháp nầy, gặp người họ Đinh thì truyền lại. Như thế ý nguyện của Ta được toại thành.”

Nói xong Sư cáo biệt rồi tịch, thọ 79 tuổi, đó là năm Mậu Tý, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 3, đời Nhà Đường (năm 808). Sư Thông Thiện dựng tháp ở phía Tây chùa Lục Tổ và ghi lời phó chúc của Thiền sư Định Không mà chôn giấu đi !

9.THẾ HỆ THỨ IX: Trong sách Thiển uyển Tập Anh Ngữ lục ghi Thế hệ thứ IX có ba Thiền sư  nhưng đều khuyết lục, tuy nhiên, nhờ tiểu sử Thiền sư Định Không và Thiền sư La Quý, chúng ta biết được vị Tổ thứ IX của Phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi là THIỀN SƯ THÔNG THIỆN Ở CHÙA THIỀN CHÚNG; vaø nhờ tiểu sử Thiền sư Pháp Thuận, chúng ta biết thêm một vị Tổ khác thuộc thế hệ thứ IX là  THIỀN SƯ PHÙ TRÌ Ở CHÙA LONG THỌ.

10. THẾ HỆ THỨ XSách Thiển uyển Tập Anh Ngữ lục ghi : “Bốn người, một người khuyết lục” ; ba Thiền sư  La Quý, Pháp Thuận, Ma Ha ;  Thiền sư khuyết lục là THIỀN SƯ VÔ NGẠI (?) Ở CHÙA SƠN TĨNH thuộc QUẬN CỬU CHÂN .

 Riêng Thiền sư Ma Ha hay Ma Ha Ma Gia là đệ tử của Thiền sư Pháp Thuận, như vậy, Thiền sư Ma Ha Ma Gia thuộc thế hệ thứ XI, chứ không phải thuộc thế hệ thứ X như sách TUTANL đã viết !!!

a. THIỀN SƯ  LA QUÝ( ? – ? )

Thiền sư La Quý họ Đinh, quê ở An Chân (?). Lúc trẻ vân du học đạo, tham thiền với nhiều thiền đức ở nhiều nơi nhưng chưa gặp duyên đạo, sắp thối chí ; may nhờ trong pháp hội ở chùa Thiền Chúng, nghe Thiền sư Thông Thiện thuyết pháp được khai ngộ, nên kính phục, xin thọ giáo quy y.

Trước khi viên tịch, Thiền sư Thông Thiện bảo sư La Quý : “Trước đây, thầy Ta là Định Công dặn Ta giữ gìn đạo pháp của Ngài, khi gặp người họ Đnh thì truyền lại. Con đúng là người nhận lấy sự ủy thác đóến lúc Ta phải đi rồi.”

Sau khi chứng đắc, Sư đi hoằng truyền chánh pháp khắp nơi, chọn đất xây dựng chùa. Mỗi khi nói ra lời nào cũng đều là “sấm ký”. Sư từng đúc tượng Lục Tổ Huệ Năng bằng vàng thờ ở chùa Lục Tổ, sau đem chôn tượng ở chùa nầy và dăn đệ tử : “Gặp Minh Vương thì đào lên, gặp Hôn quân thì cất giấu”.

Năm Bính Thân, niên hiệu Thanh Thái thứ 3, đời Nhà Đường (936), Thiền sư La Quý trồng cây bông gạo ở chùa Châu Minh tại châu Cổ Pháp, và làm bài Sấm kệ như sau:

Đại sơn đầu rồng ngửng                            Đại sơn long đầu khởi

Đuôi cù ẩn Châu Minh                               Cù vĩ ẩn Châu Minh

Thập bát tử [Nhà Lý] định thành            Thập bát tử định thành

Cây gạo hiện hình rồng                             Miên thụ hiện long hình

Thỏ gà trong tháng Chuột                         Thố kêthử nguyệt nội (*)

Nhất định thấy Trời lên                             Định kiến nhật xuất thanh.

(*) Tháng Tý (tháng 11) năm Dậu (năm Đinh Dậu = năm 1009), vua Lý Thái Tổ lên ngôi, thành lập triều đại Nhà Lý làm hưng thịnh đất nước, giúp Phật giáo phát triển …

[Xem thêm tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh, cùng sách Đại Việt Sử Lược và Đại Việt Sử ký Toàn thư]

Thiền sư La Quý về giáo hóa đồ chúng ở chùa Song Lâm tại làng Phù Ninh, phủ Thiên Đức (nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

Trước khi thị tịch Trưởng lão La Quý gọi đệ tử là Thiền Ông rằng: “Trước đây, Cao Biền xây thành bên sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng Đế vương, nên đào đứt sông Điềm [thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay] và ao Phù Chẩn [huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày nay] để cắt yểm long mạch đến 19 nơi. Ta đã hướng dẫn Khúc Lãm lấp lại như xưa. Ngoài ra, Ta có trồng một cây bông gạo ở chùa Châu Minh [tại Cổ Pháp] để trấn chỗ bị cắt đứt long mạch; nhờ đó, sau nầy, đất nước ta sẽ có bậc Đế vương phò dựng Chánh pháp [Phật  pháp]. Sau khi ta tịch, con nên cho đắp đất, dựng  bảo tháp, dùng pháp thuật mà yểm giấu trong đó, không để cho người ngoài biết.”

Nói xong, Trưởng lão La Quý viên tịch, thọ 85 tuổi.

b. THIỀN SƯ PHÁP THUẬN (915 – 990).

Thiền sư Pháp Thuận họ Đỗ, không biết quê quán ở đâu, hoằng hóa ở chùa Cổ Sơn, làng Thừ, quận Ải (?), học rộng, thơ hay, hiểu rõ thế cuộc, có tài giúp vua.

Sư xuất gia từ nhỏ, theo học với Thiền sư Phù Trì ở chùa Long Thọ.

Sau khi đắc pháp, những lời Sư nói đều phù hợp với Sấm ngữ.

Khi nhà Tiền Lê mới dựng nghiệp, Sư có công trong việc dự trù kế hoạch, quyết định sách lược. Thiên hạ thái bình Sư không nhận phong thưởng. Vua Lê Đại Hành (980- 1005) càng thêm kính trọng, thường không gọi tên, mà chỉ gọi là Đỗ Pháp sư, và giao phó cho Sư soạn thảo Văn thư Chiếu chỉ.

Năm 987, sứ giả Nhà Tống là Lý Giác sang, vua sai Sư cải trang làm người lái đò để theo dõi hành động của y. Lúc đò qua sông, thấy hai con ngỗng bơi, Lý Giác ngâm chơi :  

Ngỗng ngỗng một đôi ngỗng                    Nga nga lưỡng nga nga

Ngửa mặt ngó ven trời.                              Ngưỡng diện hướng thiên gia.     

Sư đang cầm chèo ngâm tiếp :

      Lông trắng phơi dòng biếc,                       Bạch mao phô lục thủy

     Sóng xanh chân hồng bơi.                          Hồng trạo bãi thanh ba.

Lý Giác thấy vậy lấy làm thán phục.

Vua thường hỏi vận nước ngaa81n hay dài, Sư đáp :

Vận nước như mây quấn                            Quốc tộ như đằng lạc

Trời Nam mở thái bình                               Nam thiên lý thái bình

Vô vi trên điện gác                                      Vô vi cư điện các

Xứ xứ hết đao binh.                                     Xứ xứ tức đao binh.

Thiền sư Pháp Thuận tịch vào năm Hưng Thống thứ hai, đời vua Lê Đại Hành (990), thọ 76 tuổi. Sư từng soạn sách Bồ tát hiệu sám hối văn (quyểnlưu hành ở đời. 

11. THẾ HỆ THỨ XI: Sách TUTANL viết: 4 Thiền sư, khuyết lục 2.

       Sách viết tiểu sử THIỀN ÔNG ĐẠO GIẢ  và THIỀN SƯ SÙNG PHẠM. Ngoài ra, như trên đã viết, THIỀN SƯ MA HA MA GIA cũng thuộc thế hệ XI.

a. THIỀN ÔNG ĐẠO GIẢ (902 – 979)

b. THIỀN SƯ SÙNG PHẠM (1004 – 1087).

c. THIỀN SƯ MA HA MA GIA

12. THẾ HỆ THỨ XII : Sách TUTANL viết: “7 NGƯỜI, 2 NGƯỜI KHUYẾT LỤC”. 

a. THIỀN SƯ VẠN HẠNH ( ? – 1025)

b. THIỀN SƯ ĐỊNH HUỆ.

c. THIỀN SƯ ĐẠO HẠNH ( ? – 1116)

d. THIỀN SƯ TRÌ BÁT (1049 – 1117)

e. THIỀN SƯ THUẦN CHÂN ( ? – 1105)

13. THẾ HỆ THỨ XIII : Sách TUTANL viết: “6 NGƯỜI, 2 NGƯỜI KHUYẾT LỤC”.

a. TĂNG THỐNG HUỆ SINH ( ? – 1064)

b. THIỀN SƯ THIỀN NHAM (1093 – 1163)

c. QUỐC SƯ MINH KHÔNG (1066 – 1141)

d. THIỀN SƯ BẢN TỊCH ( ? – 1139)                

14. THẾ HỆ THỨ XIV : sách TUTANL viết : “4 NGƯỜI, 3 NGƯỜI KHUYẾT LỤC”.

      TĂNG THỐNG KHÁNH HỶ (1067 – 1142)

15. THẾ HỆ THỨ XV: Sách TUTANL viết : “3 NGƯỜI, 1 NGƯỜI KHUYẾT LỤC”. 

  1. a.      THIỀN SƯ GIỚI KHÔNG
  2. b.      THIỀN SƯ PHÁP DUNG ( ? – 1174)

16. THẾ HỆ THỨ XVI : Sách TUTANL viết : 3 NGƯỜI.

  1. a.      THIỀN SƯ TRÍ NHÀN
  2. b.      THIỀN SƯ CHÂN KHÔNG ( 1046 – 1100)
  3. c.      THIỀN SƯ ĐẠO LÂM ( ? – 1203)

17. THẾ HỆ THỨ XVII: sách TUTANL viết: 4 NGƯỜI, 1 NGƯỜI KHUYẾT LỤC. 

a. NI SƯ DIỆU NHÂN (1042 – 1113)

b. THIỀN SƯ VIÊN HỌC (1073 – 1136)

c. THIỀN SƯ TỊNH THIỀN ( 1121 – 1193)

18. THẾ HỆ THỨ XVIII: Sách TUTANL viết: 2 NGƯỜI, 1 NGƯỜI KHUYẾT LỤC.

– QUỐC SƯ VIÊN THÔNG ( 1080 – 1151)

19. THẾ HỆ THỨ XIX: Sách TUTANL viết: 2 NGƯỜI, 1 NGƯỜI KHUYẾT LỤC.

– THIỀN SƯ Y SƠN ( ? – 1213)

CHƯƠNG V : THIỀN PHÁI VÔ NGÔN THÔNG

 

I. THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG

Thiền sư Vô Ngôn Thông quê ở Quảng Châu (Trung Quốc), họ Trịnh, mộ đạo từ nhỏ, bỏ gia sản đến tu học ở chùa Song Lâm tại Vũ Châu. Tánh tình trầm lặng, ít nói hiểu nhiều, thông đạt sự lý. Vì thế, người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông [sách Truyền Đăng (của Đạo Nguyên)  gọi là Bất Ngữ Thông]. Một hôm, Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi : “Thầy đang lễ gì  đó?”

Sư đáp : Lễ Phật.

Thiền khách chỉ tượng Phật, hỏi: “Cái nầy là cái gì ?”. Sư không đáp được.

Đêm đó, Sư ăn mặc chỉnh tề, đến lạy Thiền khách thưa rằng :“Điều Ngài hỏi khi nãy tôi chưa hiểu biết  ý chỉ  như thế nào ?”

Thiền khách hỏi : Thầy xuất gia đến nay đã được mấy Hạ?

Sư thưa : Mười Hạ.

Thiền khách hỏi : Đã từng xuất gia chưa ?

Sư bối rối, không trả lời được. Thiền khách bảo : Nếu không hiểu điều đó, thì dù có trăm Hạ cũng không ích gì !

Nói xong, bèn dẫn Sư cùng đến tham vấn Thiền sư Mã Tổ [Đạo Nhất (709 – 788)]. Đi đến Giang Tây thì Thiền sư Mã Tổ đã viên tịch rồi, bèn đến yết kiến Thiền sư Bách Trượng-Hoài Hải [720-814].

Lúc  đó, có một vị tăng hỏi Thiền sư Bách Trượng : Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa ?

Bách Trượng đáp : Đất lòng trống không, mặt trời tuệ tự chiếu (Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu).

Sư Vô Ngôn Thông nghe thế chợt “ngộ”, trở về Quảng Châu trụ trì chùa Hòa An.

Có người hỏi : Thầy có phải là Thiền sư không ?

Sư đáp: Bần đạo chưa từng học thiền.

Im lặng giây lâu, Sư gọi người đó, chỉ vào cây xoan. Người ấy im lặng không hỏi nữa.

Có lần Thiền sư Vô Ngôn Thông gọi đệ tử là sa di Ngưỡng Sơn-Huệ Tịch bảo : Tịch con, đem cái giường lại đây cho Ta.

Huệ Tịch đem giường đến. Sư bảo mang lại chỗ cũ, Huệ Tịch vâng theo.

Sư lại hỏi : Huệ Tịch, bên nầy có cái gì ?